|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2024/HS-ST Ngày 08 - 8 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Khẹt và bà Trần Thị Thuý;
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh 31/12/1986; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Pậu, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: chưa qua đào tạo; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Đảng phái: không; con ông Lò Văn D, sinh 1951 và bà Lò Thị Y, sinh 1958; vợ Lò Thị H, sinh 1987 và 02 con, con lớn nhất sinh 2007, con nhỏ nhất sinh 2008; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phương Vũ, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Sơn La; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 40 phút, ngày 10/4/2024 Lò Văn T điểu khiển xe mô tô Biển kiểm soát (BKS) 28S5 – 0074 đến bản Pậu, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La thì gặp Tổ công tác Công an tỉnh Sơn La phối hợp cùng Công an xã T làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra; T giao nộp 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa cục bột màu trắng và khai nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh Sơn La để điều tra, thực hiện khám xét khẩn cấp nơi ở của Thắng nhưng không thu giữ gì thêm.
Lò Văn T khai nhận: khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/4/2024, Thắng điểu khiển xe mô tô đến bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, gặp người tên Liên (không biết họ, đệm) hỏi và mua được gói ma tuý với số tiền 200.000VNĐ, cất giữ mục đích để sử dụng; xe mô tô là tài sản của Thắng tự mua.
Ngày 10/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn T, như sau: Cục bột màu trắng trong gói nilon màu đen có khối lượng là 0,96 gam, lấy 0,22 gam làm mẫu giám định ký hiệu T1, còn lại 0,74 gam ký hiệu T2 và 01 mảnh nilon màu đen niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.
Ngày 15/4/2024 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 905/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,96 gam; loại Heroine".
Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho T xác định tại bản P, xã C, huyện M có người tên Liên (Lò Văn Liên), đã tổ chức nhận dạng qua hình ảnh, T xác định được vị trí hình ảnh Lò Văn Liên nên thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn Liên nhưng Liên không có mặt tại địa phương, kết quả khám xét không thu giữ gì thêm nên tiếp tục làm rõ và xử lý khi có căn cứ.
Xác định vụ án thuộc thẩm quyền Cơ quan CSĐT Công an huyện M nên ngày 23/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã đề nghị chuyển vụ án hình sự cùng vật chứng kèm theo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền; ngày 24/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ra Quyết định số 15/QĐ-VKS-P1, Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền.
Thực hiện xác minh nguồn gốc phương tiện đối với xe mô tô gắn BKS 28S5-0074 xác định không là vật chứng trong vụ án khác; là tài sản của Lò Văn T sử dụng khi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bản cáo trạng số 94/CT-VKS-ML ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đó là do nghiện ma túy nên cất giữ, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 28 đến 32 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 0,74 gam Heroine ký hiệu T2; 01 mảnh nilon. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô BKS 28S5 – 0074. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo T tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế khó khăn, hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật hạn chế; khối lượng ma tuý không lớn, bị cáo là con của Thương binh nên đề nghị Hội đồng xét xử xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo hưởng mức hình phạt từ 22 đến 24 tháng tù để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình, xã hội; đề nghị miễn án phí cho bị cáo; các nội dung khác nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát.
Bị cáo bổ sung bào chữa, tranh luận: bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định:
Hồi 10 giờ 40 phút, ngày 10/4/2024 Lò Văn T điểu khiển xe mô tô BKS 28S5 – 0074 đến bản Pậu, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La thì gặp Tổ công tác Công an tỉnh Sơn La phối hợp cùng Công an xã T làm nhiệm vụ phát hiện Thắng cất giữ: 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa cục bột màu trắng, Thắng khai nhận đó là ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 905/KL-KTHS, ngày 15/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,96 gam; loại Heroine”. Như vậy, Lò Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép chất ma tuý là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vì sử dụng ma túy bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép chất ma tuý có tổng khối lượng 0,96 gam là nguy hiểm cho xã hội; với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động do sử dụng ma túy và kinh tế của gia đình bị cáo mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo luôn thể hiện sự cắn rứt lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là con của người có công (ông Lò Văn D là Thương binh, được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba), người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, xa, nhận thức pháp luật hạn chế, khối lượng ma tuý không lớn, mục đích tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng, cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy) nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 10/4/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[8] Đối với Liên- người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, Cơ quan CSĐT đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác, hiện không có mặt tại địa phương nên tiếp tục làm rõ và xử lý khi có căn cứ.
[9] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,22 gam Heroine không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.
Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,74 gam Heroine ký hiệu T2 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 mảnh nilon là vật dụng bị cáo sử dụng cất giữ trái phép chất ma túy, vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 xe mô tô gắn BKS 28S5 – 0074 là tài sản của bị cáo, bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T 23 (Hai mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (10/4/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 0,74 gam Heroine ký hiệu T2; 01 mảnh nilon của Lò Văn T.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô BKS 28S5 – 0074 của Lò Văn T (Chi tiết biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sơn La).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hoà |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lo Văn T, Tàng trữ trái phép chất ma túy
