Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——————————————


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tới

Ông Nguyễn Danh Lơi

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 125/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lưu Thị V, Sinh năm: 1995.

Trú tại: Khu phố D, P, Thị xã B, tỉnh Thanh Hóa

* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu M, Sinh năm: 1992.

- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

(Chị Lưu Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2024, bản tự khai ngày 22/7/2024 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lưu Thị V trình bày:

- Về hôn nhân: Tôi và chồng tôi là anh Nguyễn Hữu M có tìm hiểu và tổ chức cưới theo phong tục địa phương năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H ngày 19/3/2019; Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2019 chồng tôi xuất khẩu lao động sang N làm ăn, tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không cùng chung quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mục đích hôn nhân không đạt được, từ 2022 cho đến nay anh M không liên lạc với tôi, hiện tôi không biết anh M đang ở đâu và ở nước nào. Đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn anh M để ổn định cuộc sống và nuôi con.

- Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung, cháu tên là Nguyễn Hữu A, sinh ngày 04/4/2020, hiện nay cháu đang do tôi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ly hôn tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được nuôi con và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Chúng tôi không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về công nợ: Chúng tôi không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về án phí ly hôn: Tôi tự nguyện nộp lệ phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

* Về việc cung cấp địa chỉ của anh Nguyễn Hữu M theo yêu cầu của Tòa án: Chị V không biết địa chỉ cụ thể của chồng là anh M ở đâu tại Nhật Bản nên không thể cung cấp, chị cho biết anh M vẫn thường xuyên liên lạc với B, mẹ đẻ là ông Nguyễn Hữu T, bà Nguyễn Thị H, địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh M từ gia đình và bố mẹ đẻ anh ấy. Theo yêu cầu của chị V, Tòa án cùng chính quyền đại phương đã tiến hành xác minh lấy lời khai của ông Nguyễn Hữu T, bà Nguyễn Thị H là bố mẹ đẻ của anh M, ông bà cho biết:

Chị Lưu Thị V và anh Nguyễn Hữu M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là xã H), huyện H vào năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chị V, anh M về sống tại gia đình ông bà tại xã H, huyện H và sống hạnh phúc được một thời gian khi anh M đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào ông bà không rõ, chị V đem con trai là Nguyễn Hữu A về nhà bố mẹ đẻ tại Khu phố D, P. B, Thị xã B sinh sống đến nay.

Năm 2019 anh Nguyễn Hữu M đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản tuy không nắm được địa chỉ nhưng chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Ông Nguyễn Hữu T1 đã đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập và đã thông báo cho anh M biết. Anh M1 cũng đã biết nội dung chị V xin ly hôn và nuôi con chung, nhưng vì công việc bận nên không về tham gia tố tụng, anh M1 có nói tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng anh M1, chị V có một con chung là cháu Nguyễn Hữu A, Sinh ngày 04/4/2020 hiện cháu đang ở với chị V. Ly hôn chị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Hữu A, ông bà và anh M1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng anh M1, chị V không nợ chúng tôi và chúng tôi cũng không cho vợ chồng anh chị ấy vay, còn tài sản chung của anh chị ấy ông bà không nắm được, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

2

* Tại phiên tòa ngày 30/8/2024 chị V đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xử vắng mặt và không có ý kiến gì về phần hôn nhân, con cái, tài sản và công nợ chung. Chị không có khiếu nại gì. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tố tụng tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật pháp luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 28; 35; 37. khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 238 của Bộ luật TTDS; Khoản 1 Điều 56; 57. Các điều 81; 82; 83 luật HNGĐ và điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Lưu Thị V đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu M và giao con chung của anh chị là Nguyễn Hữu A, sinh ngày 04/4/2020 cho chị V có quyền trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị V.

Về án phí: Chị Lưu Thị V phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Lưu Thị V là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là Nguyễn Hữu M đăng ký hộ khẩu tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Nhật Bản. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Chị Lưu Thị V chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn Hữu M ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu chị V và những người thân thích là bố mẹ đẻ anh M cung cấp địa chỉ của anh M tại Nhật Bản nhưng đều không biết. Tuy anh M thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Gia đình vẫn thường xuyên liên lạc với anh M và đã thông báo cho anh biết chị V có đơn xin ly hôn và nuôi con chung, bố mẹ anh M đã nhận các văn bản tố tụng và thông báo cho anh M biết nội dung nhưng anh vẫn không về để đến Tòa án để tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

3

- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lưu Thị V có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Hữu M mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Chị Lưu Thị V, anh Nguyễn Hữu M kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại điều 8; 9 luật HNGĐ năm 2014.

Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị V trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2019 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị V, anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị V được ly hôn anh M.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu A, sinh ngày 04/4/2020. Cháu Hữu A đang ở với chị V và chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của chị V xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay anh M đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con được.

Do đó để đảm bảo quyền lợi và tốt nhất cho cháu, cần giao cháu Hữu A cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị V tự nguyện không yêu cầu anh M cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy chị V có công việc làm, có thu nhập và nơi ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hữu A và đây là sự tự nguyện của chị V nên được chấp nhận, phù hợp với Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh M không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này nếu anh M yêu cầu thì có quyền khởi kiện tại Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Lưu Thị V là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T2 đã nộp.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 273; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lưu Thị V.

- Về hôn nhân: Cho chị Lưu Thị V được ly hôn anh Nguyễn Hữu M.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu A, Sinh ngày 04/4/2020 là con chung của chị Lưu Thị V và anh Nguyễn Hữu M cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị V. Anh Nguyễn Hữu M có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

2. Về án phí: Chị Lưu Thị V phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo Biên lai thu số 0000417 ngày 11/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

3. Quyền kháng cáo:

Chị Lưu Thị V có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Hữu M có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Đức, h. Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HC-TP; - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa GĐ & NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Văn Quân

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 130/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger