|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/11/2024
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thu Nhi
- Ông Trần Văn Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 416/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 10/02/1988
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Quốc Q, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Hồ Thị T trình bày: Bà và ông Trần Quốc Q tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 22/11/2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống, ông Q nhiều lần đánh đập bà chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống. Bà đã yêu cầu ly hôn cách đây 04 năm nhưng sau đó rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, ông Q vẫn chứng nào tật náy, vẫn đánh đập bà vô cớ, khiến bà luôn sống trong sợ hãi. 02 tháng nay bà và ông Q đã không còn chung sống với nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Q.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 người con chung là cháu Trần Hồ Quỳnh N, sinh ngày 25/4/2010 và cháu Trần Hồ Quốc V, sinh ngày 19/5/2018. Hai con hiện nay đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cả 02 con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Quốc Q: Ông vẫn còn thương vợ, ông biết lỗi của mình, ông sẽ hạn chế nhậu nhẹt để kìm chế cảm xúc bản thân. Ông đánh vợ vì ông cảm thấy vợ không còn yêu thương ông. Ông hứa sẽ thay đổi bản thân.
Về con chung: Vợ chồng ông có 02 người con chung là cháu Trần Hồ Quỳnh N, sinh ngày 25/4/2010 và cháu Trần Hồ Quốc V, sinh ngày 19/5/2018. Hai con hiện nay đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông Q vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn với bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn bà Hồ Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với bị đơn ông Trần Quốc Q. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Trần Quốc Q tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 22/11/2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo bà T, sau khi kết hôn, vợ chồng bà không có tiếng nói chung nên anh Q nhiều lần đánh đập bà chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, có khi chỉ vì vợ chồng đi ăn cưới nhưng bà không ngồi chung bàn với ông Q, cũng có khi chỉ vì bà không đồng ý đi chơi với ông Q. Về phần ông Q, ông thừa nhận có đánh bà T như bà trình bày, nhưng cũng chỉ vì ông thương yêu vợ, như lần đi ăn cưới, ông muốn vợ chồng ngồi chung bàn với nhau nhưng bà T bỏ ông bơ vơ và ngồi chung bàn với chị em phụ nữ mà không nói với ông, hay ông muốn vợ chồng chở nhau đi chơi để tình cảm vợ chồng gắn bó nhưng bà T không muốn, điều đó khiến ông nghĩ rằng bà T không còn yêu thương ông nên ông đã không kìm chế được bản thân và đánh bà T, nhưng ông bực và chỉ tát bà 1 cái. Ông đã biết việc đánh vợ là sai nhưng ông không kìm chế được cảm xúc, bà T biết tánh ông luôn cư xử tình cảm nhưng bà T không hiểu cho cảm nhận của ông và vẫn không thay đổi cách đối xử với ông. Ông Q thừa nhận sai và hứa sẽ thay đổi bản thân, tha thiết được đoàn tụ với vợ để vợ chồng tiếp tục chung sống, cùng nhau nuôi dạy con cái.
Bà T và ông Q thừa nhận, ngoài những lần ông Q tát bà T vì lý do nêu trên, thì ông Q vẫn luôn quan tâm gia đình, vợ con, luôn đặt vợ con lên hàng đầu.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau, mặc dù ông Q nhiều lần có hành vi bạo lực gia đình với bà T nhưng chưa đến mức trầm trọng, không thể cứu vẫn hôn nhân. Ông Q dù có phạm lỗi với bà T nhưng vẫn là người chồng, người cha có trách nhiệm với gia đình, yêu thương vợ con, ông Q cũng đã biết lỗi và yêu cầu được bà T tha thứ và sẽ chấm dứt hành vi bạo lực với bà T, đồng thời cũng mong bà T hiểu và chia sẻ với ông Q nhiều hơn để vợ chồng hiểu nhau hơn. Từ các căn cứ trên, xét thấy cần cho quan hệ hôn nhân của ông Q và bà T cơ hội để hàn gắn, để con cái được phát triển toàn diện hơn trong gia đình có đủ cha mẹ. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, không chấp nhận cho bà T ly hôn với ông Q.
Về con chung: Vợ chồng bà T, ông Q có 02 con chung là cháu Trần Hồ Quỳnh N, sinh ngày 25/4/2010 và cháu Trần Hồ Quốc V, sinh ngày 19/5/2018. Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn nên Hội đồng xét xử không giải quyết về con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ông Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- – Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- – Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- – Điểm a Khoản 5, Điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T về việc ly hôn với ông Trần Quốc Q.
Về án phí:
Bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013783 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Bà Hồ Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bà Hồ Thị T và ông Trần Quốc Q có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thu Thúy |
Bản án số 130/2024/HNGĐ-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 130/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
