Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/4/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa, bà Hoàng Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên

Ngày 24/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 474/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1997. Nơi ĐKHHTT: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh S, sinh năm 1993. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện nay đang cư trú và làm việc tại Hàn Quốc. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1970; ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968 (bố mẹ đẻ của anh S). Cùng địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày: Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Anh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/3/2015 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn một năm. Đến năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Anh S ngoại tình và thường hay đánh đập chị Ngô Thị H. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016. Năm 2018, anh S đi sang Hàn Quốc làm việc. Vợ chồng đã không liên lạc với nhau từ năm 2016. Nay chị Ngô Thị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ngô Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Anh S.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 28/7/2016, hiện cháu đang ở với ông bà nội là bà Đặng Thị H1 và ông Nguyễn Văn N tại xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị Ngô Thị H có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Nguyễn Anh S: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Nguyễn Anh S có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ... cho anh Nguyễn Anh S thông qua bà Đặng Thị H1 và ông Nguyễn Văn N là bố mẹ đẻ của anh S; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh S nhưng hiện tại anh Nguyễn Anh S vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị H1 và ông Nguyễn Văn N trình bày: Anh Nguyễn Anh S là con của bà H1 và ông N. Anh Nguyễn Anh S đi sang Hàn Quốc sinh sống và làm việc từ năm 2018 cho đến nay. Hiện tại anh S đang ở Hàn Quốc. Anh S thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng ông bà không biết địa chỉ cụ thể của anh S để cung cấp cho Tòa án. Ông bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh S biết về việc chị Ngô Thị H làm đơn xin ly hôn anh S tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Anh S có ý kiến đồng ý ly hôn với chị H và đề nghị Tòa án giao con chung cho anh S nuôi dưỡng. Anh S và chị Ngô Thị H có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc T; cháu ở với ông bà từ khi nhỏ cho đến nay. Nếu chị H và anh S ly hôn, ông bà không có yêu cầu gì về chi phí nuôi dưỡng chăm sóc cháu. Quá trình giải quyết vụ án, ông bà trình bày có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Ngọc T cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành. Tại phiên tòa, ông bà đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng.

Cháu Nguyễn Ngọc T trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Anh S và mẹ Ngô Thị H. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội là bà Đặng Thị H1, ông Nguyễn Văn N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Thông qua lời khai của bà Đặng Thị H1 và ông Nguyễn Văn N (bố mẹ đẻ bị đơn) có căn cứ xác định bị đơn anh Nguyễn Anh S hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc và vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình. Ông bà đã thông báo cho anh S biết chị H làm đơn xin ly hôn nhưng anh S không cung cấp địa chỉ cho bà H1, ông N nên ông bà không cung cấp được địa chỉ của anh S cho Tòa án. Anh Nguyễn Anh S biết việc chị Ngô Thị H làm đơn xin ly hôn nhưng không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Ngô Thị H được ly hôn anh Nguyễn Anh S. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 28/7/2016 cho chị Ngô Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị Ngô Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về công sức nuôi dưỡng cháu T, ông N, bà H1 không yêu cầu nên không xem xét. Chị Ngô Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 21273/QLXNC-P5 ngày 15/8/2023 của Cục Q Bộ C và lời trình bày của bà Đặng Thị H1, ông Nguyễn Văn N là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Anh S thì có căn cứ xác định hiện nay anh Nguyễn Anh S đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh Nguyễn Anh S cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh S cho Tòa án. Do đó, việc anh Nguyễn Anh S vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Anh S đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Ngô Thị H, bà Đặng Thị H1, ông Nguyễn Văn N có mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh S là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Anh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Chị Ngô Thị H về bên ngoại sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh S. Tòa án đã thông báo cho anh S biết việc H xin ly hôn với anh S thông qua bà Đặng Thị H1, ông Nguyễn Văn N là bố mẹ đẻ của anh S nhưng anh S cũng không có ý kiến, không liên lạc với Tòa án thể hiện mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Do đó, xét thấy, hôn nhân của chị H, anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Anh S.

[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 28/7/2016, hiện cháu đang ở với ông bà nội là bà Đặng Thị H1 và ông Nguyễn Văn N. Chị Ngô Thị H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Anh S cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Ngọc T có nguyện vọng được sống với bố và ông bà nội là bà Đặng Thị H1 và ông Nguyễn Văn N. Quá trình giải quyết vụ án, bà H1, ông N trình bày nguyện vọng được nuôi cháu T khi anh S, chị H ly hôn. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà H, ông N cũng thống nhất giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng.

Xét thấy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì quyền và nghĩa vụ nuôi con thuộc về cha mẹ. Anh Nguyễn Anh S hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc T. Chị H và cháu T đều đang sinh sống tại Việt Nam. Tại phiên tòa bà H1 và ông N cũng thống nhất giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt ổn định cho cháu T, cần giao cháu cho chị Ngô Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ngô Thị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngô Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Nguyễn Anh S chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[5] Bà Đặng Thị H1, ông Nguyễn Văn N là người trực tiếp chăm sóc cháu Nguyễn Ngọc T từ khi cháu còn nhỏ cho đến nay nhưng ông bà không yêu cầu thanh toán chi phí chăm sóc cháu nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 37, 147, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Anh S
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 28/7/2016 cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Nguyễn Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ngô Thị H chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005048 ngày 25/7/2023. Chị Ngô Thị H đã nộp đủ án phí.
  5. Chị Ngô Thị H, ông Nguyễn Văn N, bà Đặng Thị H1 có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Anh S đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- Cục THADS tỉnh Nghệ An;

- Chi cục THADS huyện Nam Đàn;

- UBND xã Nam Kim, huyện Nam Đàn;

- Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM

Bùi Thị Hoa Hoàng Thị H2

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 130/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger