Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HN-PT

Ngày: 27/9/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm

Các Thẩm phán: Ông Phan Trịnh Minh Đức

Bà Võ Thị Mỹ Hạnh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Viết Nhiên - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 79/2024/TLPT-HNGĐ ngày 08/8/2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4730/2024/QĐ-PT ngày 20/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14161/2024/QĐ-PT ngày 19/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé T, sinh năm 1992 (Có mặt).

    Thường trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận

    Tạm trú: 656/29/17 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bùi Thị Ánh T1 - Luật sư Công ty TNHH H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

  2. Bị đơn: Ông Lê Thành L, sinh năm 1988 (Có mặt).

    Thường trú: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

    Tạm trú: CT3, Chung cư S, Đường số A, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Mai H - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

  3. Người kháng cáo: Ông Lê Thành L - Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm:

* Nguyên đơn - Bà Lê Thị Bé T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông L tự nguyện kết hôn vào năm 2020, giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 10 tháng 08 năm 2020, do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp. Thời gian ban đầu ông bà sống với nhau rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc đến nhau và khi có con cả hai đều tập trung lo cho con. Tuy nhiên thời gian hạnh phúc không bao lâu thì mất dần nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau thường xuyên cãi nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Hiện tại bà về sống với cha mẹ tại số F Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, còn ông Lê Thành L thì sống tại CT3, Chung cư S, Đường số A, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh kể từ lúc bà có đơn yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thành L. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Lê Thành L. Về con chung, bà và ông Lê Thành L có 01 con chung tên Lê Thành L1 sinh ngày 07 tháng 03 năm 2021. Con chung cùng sống chung với bà và ông Lê Thành L. Khi xảy ra mâu thuẫn, bà ra ngoài sống, bà có đưa con đi theo nhưng ông Lê Thành L dành con lại không cho bà đưa đi cùng. Khi biết bà có đơn ly hôn gửi Tòa án, ông Lê Thành L đã đưa con về sống bên cha mẹ ruột của ông Lê Thành L tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa và hiện nay thì sống với ông Lê Thành L. Còn việc ai trực tiếp chăm sóc con sau khi từ nhà trẻ về thì bà không được biết, bà chỉ liên hệ được với con qua điện thoại hoặc gặp con dưới sự giám sát của ông Lê Thành L. Vì con còn quá nhỏ, ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Lê Thành L cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có.

* Bị đơn - Ông Lê Thành L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà T tự nguyện kết hôn vào năm 2020, giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 10 tháng 08 năm 2020, do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp, ông xác nhận về quan hệ hôn nhân và con chung như bà Lê Thị Bé T trình bày là đúng. Tuy nhiên về mâu thuẫn, trong cuộc sống vợ chồng có lúc như thế này lúc như thế khác, ông nhận thấy mâu thuẫn giữa 02 ông bà không trầm trọng, không đến mức phải ly hôn. Tuy nhiên ông vẫn xác nhận hiện nay ông và bà Lê Thị Bé T sống riêng như bà Lê Thị Bé T đã trình bày. Ông yêu cầu được đoàn tụ để cùng chung lo tương lai và hạnh phúc cho con. Vì muốn đoàn tụ nên việc ai nuôi con ông không đặt ra. Tài sản chung và nợ chung không có.

Luật sư Trần Mai H trình bày: Quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Thành L và bà Lê Thị Bé T không có mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Bé T.

Bản án sơ thẩm số 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 198; Điều 220, Điều 227; Điều 271; Điều 273, Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

  • Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

  • Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Bé T.

    Bà Lê Thị Bé T được ly hôn với ông Lê Thành L.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 28, Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 10 tháng 08 năm 2020 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Bé T và ông Lê Thành L chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về con chung: Bà Lê Thị Bé T nuôi con tên Lê Thành L1 sinh ngày 07 tháng 03 năm 2021. Ghi nhận việc bà Lê Thị Bé T không yêu cầu ông Lê Thành L cấp dưỡng nuôi con.

    Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

    Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

    Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/01/2024, ông Lê Thành L có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số: 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng giao con chung Lê Thành L1 sinh ngày 07/3/2021 cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu bà T cấp dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Lê Thị Bé T trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không có ý kiến nào khác.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn ông Lê Thành L trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số: 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu được quyền được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thành L1 sinh ngày 07/3/2021, vì Tòa sơ thẩm đã xem xét giao con chung Lê Thành L1 cho bà Lê Thị Bé T nuôi dưỡng, mà chưa xem xét đến điều kiện của ông có đủ thời gian để nuôi nấng, chăm sóc con tốt, ông sẽ dành nhiều thời gian để cùng con phát triển toàn diện, bản thân ông rất yêu thương con, hiện nay ông và con đang chung sống cùng nhau. Do đó ông mong muốn được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Thành L1, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  1. VỀ VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

    1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

      Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

      Căn cứ theo khoản 1 Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thông báo về việc thụ lý vụ án phúc thẩm cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và đương sự.

      Căn cứ Điều 290 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định đưa vụ án ra xét xử gửi cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các đương sự.

      Hồ sơ vụ án cũng đã được chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

      Thực hiện việc tống đạt các Quyết định cho các bên đương sự đầy đủ.

    2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa:

      Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 239, 297, 298, 301, 302, 303 và 305 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.

    3. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự:

      Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

    1. Về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo:

      Ngày 03/5/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử, ban hành bản án số 1672/2024/HNGĐ-ST; Ngày 13/5/2024 ông Lê Thành L là bị đơn có đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 BLTTDS, kháng cáo còn trong thời hạn luật định.

    2. Nội dung kháng cáo:

      Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành L, kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: giao con chung là trẻ Lê Thành L1, sinh ngày 07/3/2021 cho ông L chăm sóc, nuôi dưỡng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bé T và ông Lê Thành L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28 ngày 10 tháng 08 năm 2020. Xác định, hôn nhân giữa bà T và ông L là hôn nhân hợp pháp đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống, do 02 bên có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, đời sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Ông T2 cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: có 1 con chung là trẻ Lê Thành L1, sinh ngày 07/3/2021. Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ lời khai của các đương sự; Nhận thấy, khi biết bà T có đơn ly hôn, ông L đã tự ý đem con về gửi bên cha mẹ ruột tại tỉnh Thanh Hóa, khi bà T muốn thăm con phải chịu sự giám sát của ông L. Như vậy, ông L đã có hành vi cản trở, gây khó khăn, không nghĩ đến tình cảm của người mẹ đối với con mình khi con chưa tròn 36 tháng tuổi.

Xét, về điều kiện chăm sóc con, ông L và bà T điều có điều kiện chăm sóc con như nhau. Tuy nhiên, hiện trẻ L1 mới khoảng 44 tháng tuổi, còn rất nhỏ để sống xa sự chăm sóc của một người mẹ. Do đó, Tòa sơ thẩm giao trẻ L1 cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng là có cơ sở.

Bởi các lẽ trên;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành L.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật TTDS 2015 đề nghị:

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lê Thành L làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét kháng cáo của ông L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị đơn ông Lê Thành L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: giao con chung là trẻ Lê Thành L1, sinh ngày 07/3/2021 cho ông L chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bé T và ông Lê Thành L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28 ngày 10/8/2020 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống, do 02 bên có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, đời sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, bà T có yêu cầu ly hôn, ông L cũng đồng ý ly hôn với bà T.

Về con chung: có 1 con chung là trẻ Lê Thành L1, sinh ngày 07/3/2021. Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ lời khai của các đương sự; Nhận thấy, khi biết bà T có đơn ly hôn, ông L đã tự ý đem con về gửi bên cha mẹ ruột tại tỉnh Thanh Hóa, khi bà T muốn thăm con phải chịu sự giám sát của ông L. Như vậy, ông L đã có hành vi cản trở, gây khó khăn, không nghĩ đến tình cảm của người mẹ đối với con mình khi con chưa tròn 36 tháng tuổi.

Xét, về điều kiện chăm sóc con, ông L và bà T điều có điều kiện chăm sóc con như nhau. Tuy nhiên, hiện trẻ L1 mới khoảng 44 tháng tuổi, còn rất nhỏ để sống xa sự chăm sóc của một người mẹ. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm giao trẻ L1 cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng là có cơ sở.

Tại giai đoạn phúc thẩm, ông L cũng không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, do vậy, kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành L không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 19, 51, 52, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thành L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 1672/2024/HNGĐ-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

    1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Bé T.

      Bà Lê Thị Bé T được ly hôn với ông Lê Thành L.

    2. Về con chung: Bà Lê Thị Bé T nuôi con tên Lê Thành L1 sinh ngày 07 tháng 03 năm 2021. Ghi nhận việc bà Lê Thị Bé T không yêu cầu ông Lê Thành L cấp dưỡng nuôi con.

      Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

      Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

      Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

      Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

    3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

  2. Về án phí: Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), bà Lê Thị Bé T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà Lê Thị Bé T đã nộp theo Biên lai thu số 0001869 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức lập, bà Lê Thị Bé T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Lê Thành L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0027078 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, ông L đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.-

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, TP. HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Tùng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HN-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 130/2024/HN-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà và ông L tự nguyện kết hôn vào năm 2020, giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 10 tháng 08 năm 2020, do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp. Thời gian ban đầu ông bà sống với nhau rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc đến nhau và khi có con cả hai đều tập trung lo cho con. Tuy nhiên thời gian hạnh phúc không bao lâu thì mất dần nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau thường xuyên cãi nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẩn và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger