|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HSST.
Ngày: 30- 7-2024.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Phước Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Hữu Hoan, bà Vũ Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Duy Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai (trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 đối với bị cáo:
PINĂNG K, sinh ngày: 01/01/1974 tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hoá: không biết chữ; Dân tộc: Raglai; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chamaléa Chương, sinh năm 1946 và bà Pinăng Thị H, sinh năm 1947(đã chết). Vợ: Kator Thị S, sinh năm 1976.
Tiền án; Tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa ở điểm cầu thành phần).
* Người làm chứng:
- - Katơr Thị S, sinh năm 1976 (có mặt);
- - Chamaléa Thị Ở, sinh năm 1995 (có mặt);
- - Chamaléa Thị P, sinh năm 1979 (có mặt);
- - Pinăng Thị N, sinh năm 1973 (có mặt);
Cùng nơi cư trú: thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 sáng ngày 26/12/2023, Pinăng K - sinh năm 1974 trú tại thôn X, xã C, huyện T đi đến khu vực rẫy chăn nuôi dê của nhà K ở thôn X, xã C, huyện T (rẫy nhà K nằm trong khu vực quản lý của Vườn Quốc Gia N). Khi đi đến khu vực chuồng dê, K nhìn thấy ở gần cửa chuồng phía dưới tảng đá có 01 động vật có sừng ngắn, lông màu đen, hình dạng giống con dê (trước đây K có nghe những người làm rẫy ở xung quanh nói có con vật giống dê nhà nuôi nhưng sống hoang dã gọi là con D). Thấy động vật nằm im, K đi đến kiểm tra thì thấy động vật vẫn còn sống. Khương kéo động vật ra khu vực tảng đá ở gần đó và giết động vật để lấy thịt. K dùng 01 con dao dài 26cm cắt cổ và mổ bụng động vật rồi dùng cây rựa dài 69cm, phần cán bằng tre dài 45,5cm, phần lưỡi cây rựa bằng kim loại màu đen dài 23,5cm chặt động vật thành nhiều khúc. K vứt bỏ đầu, 04 chân và toàn bộ phần ruột tại khu vực bụi cây gần đó, còn phần thịt, tim, gan, dạ dày, thận K mang về nhà tại thôn X, xã C để nấu ăn và làm đồ nhậu. Khi mang thịt về nhà thì K nói với người nhà đây là thịt con dê già trên rẫy bị chết. Sau đó, K cùng vợ, các con nấu thịt để ăn. Gia đình K ăn hết phần tim, gan, dạ dày, thận và một phần thịt. Số thịt còn lại K để vào thùng xốp có đá lạnh để bảo quản. Đến khoảng 10 giờ 00 ngày 27/12/2023, chị Pinăng Thị N và chị Chamaléa Thị P là người cùng thôn đến nhà K hỏi mua thịt (chị N và chị P không biết là thịt động vật Sơn D1 vì K nói là thịt con dê già ở trên rẫy chết) thì K đồng ý bán nhưng chưa kịp bán thịt cho chị N và chị P thì bị Công an xã C phát hiện, thu giữ toàn bộ số thịt, xương da và lông còn lại của động vật và đưa K về trụ sở làm việc. Qua điều tra, K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận giám định động vật số 185/STTNSV ngày 26/01/2024 của V thuộc Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam đã kết luận:
Xác định tên loài cho mẫu vật:
- 01 mẫu được trích từ đùi động vật còn nguyên thịt, da và lông gửi giám định là thịt loài Sơn D1 có tên khoa học “Capricornis milneedwardsii”. Sơn Dương thuộc lớp Thú. Thịt Sơn D1 là sản phẩm của loài S.
- 01 mẫu được trích từ bộ phận xương sườn động vật gửi giám định là sương xườn của loài Sơn D1 có tên khoa học “Capricornis milneedwardsii”. Sơn Dương thuộc lớp thú. Xương sườn loài Sơn D1 là bộ phận không thể tách rời sự sống.
Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định pháp luật:
- Loài S có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
- Loài S có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rùng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính Phủ.
- Loài S có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan thẩm quyền quản lý C.
Bản Cáo trạng số: 14/CT-VKS, ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Pinăng K về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự (BLHS, sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a, b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, đề nghị áp Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ và tiêu huỷ 20,3kg thịt, da, xương và 4,5gr lông của động vật Sơn D1 theo đúng quy định của pháp luật. Hiện đang tiếp tục tạm giữ 01 con dao dài 26cm, phần lưỡi làm bằng kim loại màu trắng dài 15cm, phần cán dao bằng nhựa màu vàng dài 11cm; 01 cây rựa dài 69cm, phần cán bằng tre màu vàng dài 45,5cm, phần lưỡi cây rựa bằng kim loại màu đen dài 23,5cm.
Về trách nhiệm dân sự: không phát sinh.
Bị cáo không có tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Pinăng K khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác thu
thập tại hồ sơ vụ án trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi cụ thể như sau: Ngày 26/12/2023, Pinăng K đã dùng dao, rựa giết động vật Sơn D1 là động vật thuộc Danh mục loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tại khu vực Vườn Quốc gia núi chúa thuộc thôn X, xã C, huyện T. Sau đó mang thịt và một phần nội tạng đem về nhà cất giấu, sử dụng và bán, nhưng chưa bán được thì bị cơ quan chức năng phát hiện. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Pinăng K về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Hành vi trên của bị cáo Pinăng K là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự bền vững và ổn định của môi trường sinh thái. Vì vậy phải xử lý thật nghiêm nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về hành vi săn bắt động vật hoang dã là vi phạm pháp luật nhưng khi thấy con sơn dương nằm bất động trước cửa chồng dê của mình, nhất thời bị cáo nảy lòng tham, đã cố ý dùng dao xẻ thịt sơn dương đem về nhà sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự bền vững và ổn định của môi trường sinh thái mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, là người lao động chính của gia đình nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét bị cáo khi lượng hình.
[4] Xét Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Xét bị cáo có đủ các điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC 07/9/2022, về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nên không cần thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Đối với hành vi mua thịt động vật S của chị Pinăng Thị N, chị Chamaléa Thị P và hành vi sử dụng thịt Sơn Dương nấu ăn của chị Katơr Thị S (vợ bị cáo K) và Chamaléa Thị Ở (con ruột bị cáo K) nhưng không biết đó là thịt động vật Sơn D1 (do bị cáo K nói dối là thịt của con dê già) nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý các hành vi này là đúng pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dài 26cm, phần lưỡi làm bằng kim loại màu trắng dài 15cm, phần cán dao bằng nhựa màu vàng dài 11cm; 01 cây rựa dài 69cm, phần cán bằng tre màu vàng dài 45,5cm, phần lưỡi cây rựa bằng kim loại màu đen dài 23,5cm mà bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: không phát sinh.
[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo K, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị cho bị cáo hưởng án treo, về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
[9] Về án hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm a, b khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Pinăng K phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
Xử phạt: Bị cáo Pinăng K 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2024).
Giao Bị cáo Pinăng K cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 26cm, phần lưỡi làm bằng kim loại màu trắng dài 15cm, phần cán dao bằng nhựa màu vàng dài 11cm; 01 cây rựa dài 69cm, phần cán bằng tre màu vàng dài 45,5cm, phần lưỡi cây rựa bằng kim loại màu đen dài 23,5cm mà bị cáo dùng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Pinăng K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, công khai, có mặt Bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2024 ).
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Phước Trí |
Bản án số 13/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (vụ án hình sự)
- Số bản án: 13/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Pinang Kh phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm
