Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Tuấn và bà Phan Thị Phương My.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Hải và ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/HSST, ngày 24 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Xuân P; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 28/8/1994; nơi sinh: tỉnh Bình Phước; nơi ĐKNKTT và chổ ở hiện nay: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Xuân B, sinh năm 1958; con bà: Phạm Thị D, sinh năm 1962; bị cáo có 05 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ, con: chưa
  2. Tiền án, tiền sự: 01 tiền án. Ngày 21/01/2019, TAND thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, phạt bổ sung: 10.000.000đ sung quỹ nhà nước về tội chứa mại dâm, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 23/01/2023. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội ngày 04/11/2023, Trần Xuân P chưa thi hành xong hình phạt bổ sung nên chưa được xóa án tích với bản án này.

    Quá trình nhân thân: sinh ra và lớn lên tại phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Được gia định cho ăn học đến lớp 11/12 thì nghỉ học ở nhà. Sau đó chuyển đến sinh sống tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 21/01/2019 bị TAND thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, phạt bổ sung: 10.000.000đ sung quỹ nhà nước về tội chứa mại dâm.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 21/11/2023 đến nay; có mặt.

  3. Họ và tên: Trần Văn M; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 02/6/1998; nơi sinh: tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần L, sinh năm 1969; con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ, con: chưa
  4. Tiền án, tiền sự: Chưa;

    Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với gia đình, học đến lớp 07/12 thì nghỉ học ở nhà. Từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 10 năm 2023 vào thành phố B, tỉnh Đồng Nai sống cùng mẹ tại Chùa T3, địa chỉ tại B, đường H, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Từ tháng 11 năm 2023 về địa phương sinh sống và làm nghề lái xe dịch vụ cho đến ngày phạm tội.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2023 và chuyển tạm giam từ ngày 17/11/2023 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần M1, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

2.3 Người làm chứng:

  • - Anh Phan Văn L1, sinh năm 1998.
  • Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

  • - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969.
  • Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  • - Anh Trần Đ, sinh năm 1989.
  • Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

  • - Anh Trần Thanh L2, sinh năm 1992.
  • Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 01/11/2023, tại nhà của Trần Xuân P thuộc thôn T, xã Q, huyện Q, P nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên đã rủ Trần Văn M cùng nhau góp tiền để mua ma tuý thì M đồng ý. Mỗi người góp 1.000.000đ, M đưa cho P 1.000.000đ gồm hai tờ 500.000đ, P mang số tiền 1.000.000₫ mà M đã đưa đến quán tạp hoá của ông Lê Viết C ở thôn T, xã Q, huyện Q để nhờ ông C chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản thẻ ngân hàng S của P.

Sau khi có tiền trong tài khoản, P nhắn tin qua M2 Facebook cho người có tài khoản Facebook tên Võ Hồng K, ở thị xã P, tỉnh Bình Phước để đặt mua ma tuý thì K đồng ý bán. P mua số lượng ma túy “nửa hộp năm” với giá 1.800.000đ. P yêu cầu K gửi ma túy qua nhà xe H, địa chỉ nhận hàng là ở chợ V, xã Q, huyện Q và số điện thoại người nhận hàng là số 032.681.3xxx của Trần Văn M. P đã chuyển tiền vào tài khoản 050116121991 của Võ Hồng K số tiền 1.900.000 đồng (bao gồm tiền mua ma túy và tiền gửi xe).

Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/11/2023, nhà xe Hương T1 gọi điện thoại cho Trần Văn M đến nhận hàng, lúc này M nhờ bạn là Phan Văn L1 đến nhận hàng và mang về nhà đưa cho M (L1 không biết rõ bên trong là hàng gì). Sau khi nhận được hàng M kiểm tra bên trong có 02 trái bóng nhựa và một con rùa nhựa màu xanh lá cây, M lấy trong con rùa ra một gói ma túy. Sau đó M điều khiển xe máy mang gói ma túy đến nhà của Trần Xuân P.

M và P cùng nhau sử dụng ma túy 04 lần tại phòng ngủ của P từ ngày 04/11/2023 đến ngày 06/11/2023, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất, khoảng 10 giờ ngày 04/11/2023, sau khi nhận ma túy từ nhà xe H, M đem ma túy đến phòng ngủ của P để cùng nhau sử dụng. Khi bắt đầu sử dụng M lấy dụng cụ sử dụng ma tuý được P treo ở góc cửa phòng ngủ xuống và đặt gói ma tuý ra giữa bàn. P cầm lấy gói ma tuý đổ vào ống thủy tinh (nỏ) của bình sử dụng ma tuý và dùng bật lửa để nấu ma tuý (làm chín, tan chảy ma tuý thành hơi để hút). Khi nấu ma tuý xong P cầm bình ma tuý đưa cho M và dùng bật lửa khò lại ma tuý để M sử dụng. Khi M sử dụng ma tuý xong lượt của mình thì đưa lại bình ma tuý cho P và dùng bật lửa khò lại ma tuý cho P sử dụng. P và M thay phiên nhau sử dụng ma tuý như vậy cho đến khi sử dụng hết số ma tuý ở trong bình mà P đã nấu trước đó thì nghỉ. Khi sử dụng ma tuý xong, M dùng bật lửa để hơ khằn kín lại gọi ma tuý đó và để lại giữa bàn, rồi P và M nghỉ ngơi. Sau đó, M mang theo gói ma túy trở về nhà của mình.

Lần thứ hai, khoảng 10 giờ ngày 05/11/2023, M đem theo gói ma túy còn lại sau lần sử dụng thứ nhất quay lại nhà của P để tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy. M lấy dụng cụ sử dụng ma tuý được P treo ở góc cửa phòng ngủ của P xuống để ra giữa bàn cùng với gói ma tuý M đang giữ. M lấy một ít ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh của bình sử dụng ma tuý và nấu xong để giữa bàn, Phong cầm bình ma tuý lên đưa cho M và dùng bật lửa để khò ma tuý cho M sử dụng. Khi M sử dụng ma tuý xong lượt của mình thì M đưa lại bình ma tuý cho P và dùng bật lửa khò lại ma tuý cho P sử dụng. Cả hai thay phiên nhau sử dụng ma tuý như vậy cho đến khi sử dụng hết số ma tuý ở trong bình và nghỉ ngơi. P và M để lại dụng cụ sử dụng ma tuý và gói ma tuý còn lại ở giữa bàn ở trong phòng ngủ của P.

Lần thứ ba, khoảng 23 giờ ngày 05/11/2023, P cùng với M tiếp tục cùng nhau sử dụng ma tuý, số ma tuý để sử dụng lần này cũng là số ma tuý trong gói mà M nhận từ nhà xe H còn lại của hai lần sử dụng trước để ở trên bàn trong phòng ngủ của P. M bỏ ma tuý vào nỏ của bình sử dụng ma tuý và nấu xong để giữa bàn. M cầm bình ma tuý đưa cho P và dùng bật lửa để khò lại ma tuý cho P sử dụng. Khi P sử dụng ma tuý xong lượt của mình thì đưa lại bình ma tuý cho M và dùng bật lửa khò lại ma tuý cho M sử dụng. Cả hai thay phiên nhau sử dụng ma tuý như vậy cho đến khi sử dụng hết số ma tuý ở trong bình và đi ngủ. P và M để lại dụng cụ sử dụng ma tuý và gói ma tuý còn lại ở giữa bàn ở trong phòng ngủ của P.

Lần thứ tư, khoảng 23 giờ ngày 06/11/2023, P và M tiếp tục cùng nhau sử dụng ma tuý, số ma tuý để sử dụng lần này cũng là số ma tuý còn lại mà M đã nhận từ nhà xe H mà các lần trước chưa sử dụng hết. P lấy gói ma tuý ở giữa bàn lên rồi bỏ ma tuý vào nỏ của bình sử dụng ma tuý để nấu, rồi P đưa gói ma tuý còn lại cho M và M dùng bật lửa hơ khằn kín lại gói ma tuý để ra giữa bàn. Sau đó, P cầm lấy bật lửa và nấu số ma tuý đã đổ vào nỏ của bình sử dụng ma tuý, khi nấu ma tuý xong P cầm bình ma tuý đưa cho M sử dụng. Khi M sử dụng ma tuý xong lượt của mình thì đưa lại bình ma tuý cho P và dùng bật lửa khò lại ma tuý cho P sử dụng. Cả hai thay phiên nhau sử dụng ma tuý như vậy cho đến khi sử dụng hết số ma tuý ở trong bình và nghỉ ngơi, đi ngủ; để lại dụng cụ sử dụng ma tuý và gói ma tuý còn lại ở giữa bàn ở trong phòng ngủ của P như những lần trước.

Đến khoảng 17 giờ ngày 07/11/2023, khi P và M đang ngồi nói chuyện với nhau tại phòng ngủ của P, lúc này dụng cụ sử dụng ma tuý và gói ma tuý còn lại của những lần sử dụng trước vẫn còn để sẵn ở trên bàn ở trong phòng ngủ nhưng cả hai chưa có ý định sử dụng ma tuý. Khi nghe có tiếng gõ cửa phòng nên P cầm lấy bình sử dụng ma tuý rút cái ống thuỷ tinh (nỏ) ra bỏ xuống nền nhà và bỏ cái bình còn lại vào trong túi vải treo lên góc cửa phòng, còn M lấy gói ma tuý ở giữa bàn là số ma tuý còn lại của những lần sử dụng trước đó bỏ vào ốp lưng điện thoại của M và bỏ vào túi quần đang mặc. P mở cửa phòng thì Đồn Biên phòng P1, Bộ đội Biên phòng tỉnh T vào kiểm tra, phát hiện trên người của M một gói ma tuý được cất giấu trong ốp lưng điện thoại để trong túi quần và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q Trần Văn M và Trần Xuân P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận giám định số 708/KL-KTHS ngày 11/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 1,1384g, là ma túy, loại Methamphetamine. Bên trong ống thuỷ tinh gửi giám định có chất ma tuý, loại Methamphetamine. Bên trong chai nhựa có gắn ống hút gửi giám định có chất ma tuý, loại Methamphetamine.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

  • 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 083501 được niêm phong kín bằng băng keo trong, có 02 (hai) chữ ký của ông Trần N, 02 (hai) chữ ký của ông Nguyễn Đức T2, 02 (hai) dấu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T. Bên trong có: 1,0384g (một phẩy không ba tám bốn gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định; 01 (một) ống thuỷ tinh gửi giám định; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút gửi giám định; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
  • 01 (một) hộp nhựa hình vuông bằng nhựa màu trắng, có nhãn hiệu bằng chữ Hàn Quốc có dãy số 8936123921774 bên trong có các gói nylon nhỏ trong suốt.
  • 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu xám đen, mặt sau lưng bị hư hỏng, vỡ vụ, màn hình bị rạn nứt, có mật khẩu 2006, có số IMEI: 354850097958698, có số MEID: 35485009795869.
  • 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xám, đã qua sử dụng, có mật khẩu 101222, có số IMEI 352851115733776, số MEID 35285111573377.
  • 01 (một) túi vải dù màu đen có khoá kéo, có chữ adidas.
  • 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu trắng trong.
  • 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu xám.
  • 01 (một) ống nhựa hình trụ, bên trong có một vật hình phễu màu trắng, bên trên có một vật nhựa màu đen, hình phễu và một vật nhựa màu đen như đuôi bút bi.

Ngày 25/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã ra lệnh nhập kho vật chứng số 41 đối với những vật chứng nói trên.

  • 01 (một) loa nghe nhạc màu đỏ, có hình bầu dục, có quai xách có dòng chữ ULTIMATE EARS.

Ngày 25/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho ông Trần M1 là chủ sở hữu loa nghe nhạc nói trên.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSQĐ ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố các bị cáo Trần Xuân PTrần Văn M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội đã gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử .

Tuyên bố: bị cáo Trần Xuân PTrần Văn M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Xuân P từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 05 năm đến 06 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Xuân P từ 01 năm 3 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của 2 tội đối với 02 bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị:

  • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu xám đen, mặt sau lưng bị hư hỏng, vỡ vụ, màn hình bị rạn nứt, có mật khẩu 2006, có số IMEI: 354850097958698, có số MEID: 35485009795869 và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xám, đã qua sử dụng, có mật khẩu 101222, có số IMEI 352851115733776, số MEID 35285111573377.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 083501 được niêm phong kín bằng băng keo trong, có 02 (hai) chữ ký của ông Trần N, 02 (hai) chữ ký của ông Nguyễn Đức T2, 02 (hai) dấu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T. Bên trong có: 1,0384g (một phẩy không ba tám bốn gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định; 01 (một) ống thuỷ tinh gửi giám định; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút gửi giám định; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định; 01 (một) hộp nhựa hình vuông bằng nhựa màu trắng, có nhãn hiệu bằng chữ Hàn Quốc có dãy số 8936123921774 bên trong có các gói nylon nhỏ trong suốt; 01 (một) túi vải dù màu đen có khoá kéo, có chữ adidas; 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu trắng trong; 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu xám; 01 (một) ống nhựa hình trụ, bên trong có một vật hình phễu màu trắng, bên trên có một vật nhựa màu đen, hình phễu và một vật nhựa màu đen như đuôi bút bi.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã đề nghị và đều có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhận dân huyện Q đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 01/11/2023, Trần Xuân PTrần Văn M đã chuẩn bị dụng cụ và cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng trái phép tại phòng ngủ của P thuộc thôn T, xã Q, huyện Q tổng cộng 04 lần vào các ngày 04, 05, 06/11/2023. Đến khoảng 17 giờ ngày 07/11/2023, P và M bị lực lượng Đồn biên phòng P1, Bộ đội Biên phòng tỉnh T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hàng vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 1,1384g, loại Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và sự phát triển của dân tộc, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố các bị cáo Trần Xuân PTrần Văn M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ và vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội:

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi và hậu quả của mình đối với xã hội, các bị cáo nhận thức tác hại của ma tuý và biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội . Hành vi của các bị cáo không những gây tác hại rất lớn đến xã hội và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn và bao hệ lụy xã hội khác. Do đó cần phải xử lý các bị cáo một mức án nghiêm nhằm để giáo dục bị cáo cũng như để răn đe và phòng ngừa chung.

Trần Xuân PTrần Văn M cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giản đơn không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó: Trần Xuân P là người khởi xướng, cùng bỏ tiền mua ma túy, liên hệ để mua ma túy về sử dụng cùng với M nên phải chịu trách nhiệm chính; Trần Văn M góp tiền (1.000.000 đồng) mua ma túy và nhận ma túy về để cùng P sử dụng nên phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm là người thực hành.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

  • - Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn M có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trần Xuân P có nhân thân xấu, bị cáo P ngày 21/01/2019 bị TAND thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, phạt bổ sung: 10.000.000₫ sung quỹ nhà nước về tội chứa mại dâm, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 23/01/2023. Đến thời điểm phạm tội ngày 04/11/2023, Trần Xuân P chưa thi hành xong hình phạt bổ sung trên, do đó chưa được xoá án tích với bản án này.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo M không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo P phạm vào tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Riêng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là do trong quá trình điều tra các bị cáo M, P tự thú khai ra, vì vậy 2 bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo M có xác nhận của chính quyền địa phương là gia đình khó khăn nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt:

Hành vi của các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Bị cáo P phạm vào 01 tình tiết tăng nặng trach nhiệm hình sự, là người khởi xướng, bỏ tiền mua ma tuý và liên hệ mua ma túy nên phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo M góp tiền mua ma túy, nhận ma túy về để cùng P sử dụng nên phải chịu trách nhiệm với ma tuý là người thực hành. Do đó cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm để giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên cần áp dụng thêm Điều 54 bộ luật hình sự cho các bị cáo đối với tội này để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật .

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu xám đen, mặt sau lưng bị hư hỏng, vỡ vụ, màn hình bị rạn nứt, có mật khẩu 2006, có số IMEI: 354850097958698, có số MEID: 35485009795869 và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xám, đã qua sử dụng, có mật khẩu 101222, có số IMEI 352851115733776, số MEID 35285111573377 các bị cáo đã sử dụng liên lạc để mua ma tuý và liên lạc lấy ma tuý, tổ chức sử dụng ma tuý, là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 083501 được niêm phong kín bằng băng keo trong, có 02 (hai) chữ ký của ông Trần N, 02 (hai) chữ ký của ông Nguyễn Đức T2, 02 (hai) dấu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T. Bên trong có: 1,0384g (một phẩy không ba tám bốn gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định; 01 (một) ống thuỷ tinh gửi giám định; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút gửi giám định; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.; 01 (một) hộp nhựa hình vuông bằng nhựa màu trắng, có nhãn hiệu bằng chữ Hàn Quốc có dãy số 8936123921774 bên trong có các gói nylon nhỏ trong suốt; 01 (một) túi vải dù màu đen có khoá kéo, có chữ adidas; 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu trắng trong; 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu xám; 01 (một) ống nhựa hình trụ, bên trong có một vật hình phễu màu trắng, bên trên có một vật nhựa màu đen, hình phễu và một vật nhựa màu đen như đuôi bút bi là chất cấm và là công cụ, phương tiện phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, bị cáo Trần Xuân P khai nhận mua ma tuý của một người tên Võ Hồng K ở tỉnh Bình Phước và chuyển tiền mua ma tuý qua tài khoản ngân hàng của Võ Hồng K. Qua xác minh thông tin tài khoản ngân hàng xác định được chủ tài khoản mang tên Võ Hồng K, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của Võ Hồng K xác định K không có mặt tại địa phương, hiện nay không biết đang làm gì, ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục áp dụng các biện pháp xác minh, truy tìm. Khi tìm được Võ Hồng K sẽ điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo Trần Xuân PTrần Văn M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Xuân P 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Xuân P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự quyết định tổng hợp hình phạt đối với 2 tội. Buộc bị cáo Trần Xuân P phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giam 21/11/2023.
    • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự quyết định tổng hợp hình phạt đối với 2 tội. Buộc bị cáo Trần Văn M phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 08/11/2023
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu xám đen, mặt sau lưng bị hư hỏng, vỡ vụ, màn hình bị rạn nứt, có mật khẩu 2006, có số IMEI: 354850097958698, có số MEID: 35485009795869 và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xám, đã qua sử dụng, có mật khẩu 101222, có số IMEI 352851115733776, số MEID 35285111573377.
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 083501 được niêm phong kín bằng băng keo trong, có 02 (hai) chữ ký của ông Trần N, 02 (hai) chữ ký của ông Nguyễn Đức T2, 02 (hai) dấu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T. Bên trong có: 1,0384g (một phẩy không ba tám bốn gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định; 01 (một) ống thuỷ tinh gửi giám định; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút gửi giám định; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định; 01 (một) hộp nhựa hình vuông bằng nhựa màu trắng, có nhãn hiệu bằng chữ Hàn Quốc có dãy số 8936123921774 bên trong có các gói nylon nhỏ trong suốt; 01 (một) túi vải dù màu đen có khoá kéo, có chữ adidas; 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu trắng trong; 01 (một) trái banh hình tròn bằng nhựa dẻo, có đường kính khoảng 05 cm, có màu xám; 01 (một) ống nhựa hình trụ, bên trong có một vật hình phễu màu trắng, bên trên có một vật nhựa màu đen, hình phễu và một vật nhựa màu đen như đuôi bút bi.
    • (Vật chứng trên có chủng loại, đặc điểm, tình trạng theo bên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền ngày 01/7/2024).
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Xuân PTrần Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) theo quy định pháp luật.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND tỉnh TT-Huế;
  • - Sở tư pháp tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND huyện Quảng Điền;
  • - Cơ quan CSĐT. CA huyện Quảng Điền;
  • - Cơ quan THAHS. CA huyện Quảng Điền;
  • - Chi cục THA.DS huyện Quảng Điền;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ T.H.A;
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trương Quốc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân Phong 7 năm tù Trần Văn Minh 5 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger