Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CỬA LÒ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày 26-04-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thức Phong và ông Chế Đình Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đình C, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1987 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961; Vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1990; con: 05 con (nhỏ nhất sinh năm 2022, lớn nhất sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/3/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trịnh Khắc A, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 02 tháng 8 năm 2005 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Khối Y, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Khối Đ, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Xuân B, sinh năm 1983 và con bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/01/2024 đến ngày 12/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và tạm hoãn xuất cảnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Hoàng Nhật M, sinh ngày 03/6/2008.

Địa chỉ: Khối T, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

- Người đại diện hợp pháp của anh Hoàng Nhật M: Bà Dương Thị H, sinh năm 1977 (mẹ đẻ của anh M).

Địa chỉ: Khối T, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Hoàng Thanh S, sinh năm 1987.

Địa chỉ: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

(Người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 4/2023 (ngày không nhớ), Nguyễn Đình C lên trang mạng xã hội Facebook tìm đặt mua 03 hộp pháo loại 100 quả với giá 650.000 đồng/01 hộp; 19 túi pháo bi với giá 350.000 đồng/01 túi; 01 hộp pháo loại 16 quả với giá 600.000 đồng. Tháng 10/2023 (ngày không nhớ), Nguyễn Đình C tiếp tục lên trang mạng xã hội Facebook tìm đặt mua 03 hộp pháo loại 49 quả với giá 900.000 đồng/01 hộp, 01 cuộn pháo băng với giá 1.000.000 đồng. Cả 02 lần mua pháo thì cứ khoảng vài ngày sau khi đặt mua là có người đưa pháo đến nhà giao cho C; C nhận pháo, thanh toán tiền rồi đem cất dấu phía sau phòng ngủ trên tầng 2 nhà ở của mình ở khối B, phường N, thị xã C để có ai mua thì bán kiếm lời. Đến chiều ngày 05/01/2024, C đem 03 hộp pháo loại 49 quả, 04 túi pháo bi và 01 cuộn pháo băng ra để ở quầy thu ngân của quán Bi a King Billiards của mình (Quán B nằm trong khuôn viên nhà ở của C) và giao cho Trịnh Khắc A là nhân viên làm quản lý quán Bi a cất giữ, bảo quản. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, C nhận được điện thoại của một người có tên là H1 (không rõ năm sinh) ở khối B, phường N, thị xã C hỏi mua pháo, C trả lời là hiện tại chỉ còn 3 hộp pháo loại 49 quả, giá bán là 1.600.000 đồng/01 hộp thì H1 đồng ý mua. Do đang đi chơi ở Thành phố V nên C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của mình, có tên tài khoản M1 là "Chung Nguyễn”, gọi đến điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X của Trịnh Khắc A, có tên tài khoản M1 là "Trịnh An”; C nói A lấy 03 hộp pháo loại 49 quả đưa đến quán T2 ở khối B, phường N, thị xã C để giao cho H1. C nói với A là nếu H1 trả tiền thì A lấy về cho C còn nếu H1 chưa có trả thì C sẽ lấy ở Hoàng sau và C hứa với A là sau khi giao pháo xong C sẽ cho A 100.000 đồng. Nghe điện thoại xong, A vào lấy 03 hộp pháo loại 49 quả bỏ vào túi ni lon màu vàng để đi giao cho H1, thấy trong quán Bi a có 01 chiếc xe máy biển số 37H3-0617 đang cắm sẵn chia khóa ở ổ khóa, biết là xe của anh S trước đó đến chơi nhưng chưa đưa về. A đưa túi pháo lại đặt vào giá để đồ ở giữa xe và chuẩn bị đi thì thấy Hoàng Nhật M đang đánh Bi a ở đó. A nói với M "Đi đây với tau chút", M đồng ý lại ngồi sau xe đi cùng A. M không hỏi gì và A cũng không nói cho M biết là đi đâu, làm gì. Khi A và M vừa đến quán T2, chưa kịp giao pháo cho H1 thì bị Công an thị xã C phát hiện bắt quả tang. Qua đấu tranh, A tự nguyện giao nộp số pháo còn lại đang để ở quầy thu ngân quán Bi a King Billiards gồm 04 túi pháo bi và 01 cuộn pháo băng. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã C tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đình C, thu giữ 03 hộp pháo loại 100 quả/1 hộp, 01 hộp pháo loại 16 quả và 15 túi pháo bi. Biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 05/01/2024, xác định khối lượng tang vật thu giữ của Trịnh Khắc A gồm: 03 (ba) khối hình hộp có đặc điểm giống nhau và có kích thước (10 x 18 x 18)cm, bên ngoài bọc bằng giấy có nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài, có khối lượng là 4,9 kg (bốn phẩy chín ki lô gam); 04 (bốn) túi ni lon màu trắng, bên trong đựng nhiều quả hình cầu có nhiều màu sắc, trên mỗi quả đều gắn dây màu xanh dài 3 cm và 01 hộp giấy màu đỏ, kích thước (27 x 27 x7)cm, bên trong có nhiều viên dạng hình trụ, kích thước dài 3 cm, đường kính 0,5 cm, được kết lại với nhau thành dây dài 3 mét, có khối lượng là 2,76 kg (hai phẩy bảy sáu ki lô gam). Số lượng tang vật thu giữ của Trịnh Khắc A là 7,66kg (bảy phẩy sáu mươi sáu ki lô gam)

Cơ quan điều tra đã lấy 01 hộp kích thước 10 x 18 x 18cm (ký hiệu M1); 70cm loại viên hình trụ kết lại với nhau (ký hiệu M2), 01 túi ni lon màu trắng, bên trong đựng nhiều quả hình cầu có nhiều màu sắc (ký hiệu M3) để làm mẫu đi giám định.

Kết luận giám định số 120/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3 thu giữ của Trịnh Khắc A gửi tới giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ.

Biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 05/01/2024, xác định khối lượng tang vật thu giữ của Nguyễn Đình C gồm: 03 (ba) khối hình hộp có đặc điểm giống nhau và có kích thước (24 x 24 x 10)cm, bên ngoài bọc bằng giấy có nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài; 01 (một) khối hình hộp có kích thước (20 x18 x 18)cm, bên ngoài bọc bằng giấy có nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài; 01 (một) túi ni lon màu trắng, bên trong đựng nhiều quả hình cầu có nhiều màu sắc, trên mỗi quả đều gắn dây màu xanh dài 3 cm. Tổng khối lượng tang vật thu giữ của Nguyễn Đình C là 17.1 kg (mười bảy phẩy một kilogam)

Cơ quan điều tra đã lấy 01 hộp kích thước 24x24x10cm (ký hiệu M1); 01 hộp có kích thước 20x18x18cm (ký hiệu M2), 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng nhiều quả hình cầu có nhiều màu sắc (ký kiện M3) để làm mẫu đi giám định.

Kết luận giám định số 121/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật ký hiệu M1; M2; M3 thu giữ của Nguyễn Đình C gửi tới giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ.

Bản cáo trạng số 09/CT-VKS-CL ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đã truy tố Nguyễn Đình C, Trịnh Khắc A về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Đình C từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 đến 42 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trịnh Khắc A từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 đến 30 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại của Nguyễn Đình CTrịnh Khắc A. Tịch thu tiêu hủy số pháp nổ và bao bì đựng pháo.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Đình CTrịnh Khắc A đồng ý với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho họ, quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự HĐXX xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[3] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đình CTrịnh Khắc A đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai người làm chứng; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào tháng 4/2023 và tháng 10/2023, Nguyễn Đình C đã lên trang mạng xã hội Facebook tìm đặt mua 03 hộp pháo loại 49 quả; 03 hộp pháo loại 100 quả; 01 hộp pháo loại 16 quả; 19 túi pháo bi và 01 cuộn pháo băng dài 3 mét, có tổng khối lượng là 24,76 kg đem về nhà cất dấu để bán kiếm lời. Đến chiều ngày 05/01/2024, C đem 03 hộp pháo loại 49 quả, 04 túi pháo bi và 01 cuộn pháo băng có khối lượng 7,66 kg ra để ở quầy thu ngân của quán Bi a King Billiards của mình (quán nằm trong khuôn viên nhà của C) và giao cho Trịnh Khắc A là nhân viên quản lý quán Bi a cất giữ, bảo quản. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, C bán cho một người có tên là H1 (không rõ năm sinh ở khối B, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An 03 hộp pháo loại 49 quả, với giá 1.600.000 đồng/01 hộp và nói Trịnh Khắc A đưa đến quán T1 H2 ở khối B, phường N giao cho H1. A đồng ý lấy 03 hộp pháo đặt ở giá để đồ giữa xe máy biển số 37H3-0617 rồi rủ Hoàng Nhật M đi cùng. Khi A, M vừa đến quán T2, chưa kịp giao pháo cho H1 thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình CTrịnh Khắc A đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình C, Trịnh Khắc A về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3]. Xét tính chất vụ án, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng:

[3.1]. Về tính chất vụ án, vai trò cuả các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm sản xuất, kinh doanh và gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc loại đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Đình C là người trực tiếp mua pháo để bán kiếm lời và chỉ đạo bị cáo Trịnh Khắc A lấy pháo đi giao cho người mua. Do đó, bị cáo Chung giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo A là người giúp sức cho bị cáo Chung. Vì vậy, cần xem xét áp dụng hình phạt đối với các bị cáo tương xứng với vai trò, hành vi của từng bị cáo trong vụ án mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Nguyễn Đình CTrịnh Khắc A sau khi phạm tội đều đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra. Bị cáo Nguyễn Đình C có bố, mẹ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác trong quân đội và các hoạt động tại địa phương. Bị cáo Trịnh Khắc A có cố nội là ông Trịnh Xuân H3 được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, kỷ niệm chương chiến sỹ cách mạng bị địch bắt, tù đày; có ông nội là Trịnh Xuân B1 được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, Huân chương chiến công hạng ba, kỷ niệm chương chiến sỹ T - đường H, bà nội là Tăng Thị Đ được tặng Kỷ niệm chương chiến sỹ T - đường H nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả hai bị cáo.

Căn cứ vào tính chất vụ án, vai trò của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo thì tuy hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình CTrịnh Khắc A là nguy hiểm cho xã hội nhưng các bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt và đều có nơi cư trú ổn định, chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục.

- Đối với người bán pháo cho Nguyễn Đình C: Do C đặt mua pháo trên mạng Facebook, sau đó có người đưa pháo đến nhà giao cho C, thời gian đã lâu nên C không nhớ tên tài khoản Facebook và đặc điểm người giao pháo cho mình, Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được nên chưa có căn cứ để xử lý.

- Đối với người đặt mua pháo: Theo lời khai của Nguyễn Đình C thì người mua pháo của C có tên là H1 ở khối B, phường N, thị xã C, cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại khối B, phường N, có người tên là Nguyễn Văn H4, sinh năm 1994 nhưng hiện tại Nguyễn Văn H4 không có mặt tại địa phương nên chưa làm rõ được, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

- Đối với Hoàng Nhật M: Khi đi đưa pháo thì Trịnh Khắc A rủ Hoàng Nhật M đi cùng nhưng M không biết việc A đi giao pháo cho H4 nên cơ quan điều tra không xử lý về hình sự đối với Hoàng Nhật M là đúng quy định.

- Đối với Hoàng Thanh S là chủ xe máy biển số 37H3 - 0617, khi đến quán B2 chơi rồi để xe lại đó và đi về với bạn, sau đó Trịnh Khắc A lấy xe máy của anh S để đi giao pháo cho H4 thì anh S không biết nên cơ quan điều tra trả lại xe và không xử lý đối với anh S là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Đình CTrịnh Khắc A đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

+ 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, màu trắng, số seri: GHKYK0D2JCLJ, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Khắc A và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro max, màu tím, số imei: 351914969391173, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình C là của các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

+ 01(một) thùng cát tông kích thước (40x33x36)cm được niêm phong bằng cách dán kín bằng giấy màu trắng, trên giấy dán niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia. Bên trong thùng cát tông chứa các vật chứng còn lại là pháo nổ sau khi lấy mẫu gửi giảm định gồm: 02(hai) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (10x18x18)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in hình chữ nước ngoài; 02(hai) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in hình chữ nước ngoài; 02(hai) túi ni lông đựng các quả hình cầu có nhiều màu sắc (xanh, đỏ, vàng) trên các quả hình cầu có gắn dây màu xanh dài khoảng 3cm; Các thỏi hình trụ tròn kích thước mỗi thỏi dài 3cm, đường kính 0,5cm được kết nối lại với nhau cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình C, Trịnh Khắc A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Đình C, Trịnh Khắc A có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Đình C 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng về tội Buôn bán hàng cấm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đình C cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trịnh Khắc A 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 (hai mươi tư) tháng về tội Buôn bán hàng cấm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trịnh Khắc A cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, màu trắng, số seri: GHKYK0D2JCLJ, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Khắc A và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro max, màu tím, số imei: 351914969391173, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình C. (Vật chứng đang đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò. Tình trạng, đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2024 giữa cơ quan Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An).

+ Tịch thu tiêu hủy 01(một) thùng cát tông kích thước (40x33x36)cm được niêm phong bằng cách dán kín bằng giấy màu trắng, trên giấy dán niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia. Bên trong thùng cát tông chứa các vật chứng còn lại là pháo nổ sau khi lấy mẫu gửi giảm định gồm: 02(hai) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (10x18x18)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in hình chữ nước ngoài; 02(hai) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in hình chữ nước ngoài; 02(hai) túi ni lông đựng các quả hình cầu có nhiều màu sắc (xanh, đỏ, vàng) trên các quả hình cầu có gắn dây màu xanh dài khoảng 3cm; Các thỏi hình trụ tròn kích thước mỗi thỏi dài 3cm, đường kính 0,5cm được kết nối lại với nhau. (Vật chứng đang được lưu giữ tại Công an thị xã C. Tình trạng, đặc điểm các vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 02/PNK ngày 22/01/2024 của Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Đình C, Trịnh Khắc A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Đình C, Trịnh Khắc A có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - UBND phường Nghi Thu;
  • - UBND phường Nghi Thủy;
  • - VKSND thị xã Cửa Lò;
  • - Công an thị xã Cửa Lò;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS thị xã Cửa Lò;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình C và đồng phạm BBHC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger