Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 13/2024/DS-ST

Ngày 25-9-2024

V/v tranh chấp về ranh giới quyền sử

dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Bình;

Ông Nguyễn Duy Viên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1962; nơi ĐKHKTT: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khu G, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

+ Bà Phạm Thị H, sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

+ Bà Phạm Thị T, sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà L, bà H, bà T: Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khu G, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (Văn bản uỷ quyền ngày 24-4-2024); có mặt.

+ Ông Phạm Minh N, sinh năm 1967 và anh Phạm Khắc A, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; ông N có mặt, anh A vắng mặt.

+ Ông Phạm Văn C, sinh năm 1962; anh Phạm Bảo T1, sinh năm 1991 và chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1993; cùng nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13-3-2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn (bà Phạm Thị L); người đại diện hợp pháp của bà L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn (bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị T, ông Phạm Văn C, anh Phạm Bảo T1, chị Nguyễn Thị L2) thống nhất trình bày:

Cụ Phạm Công Q (sinh năm 1922, chết năm 2022); cụ Nguyễn Thị L3 (sinh năm 1931, chết năm 2010) và cụ Cao Thị C1 khi còn sống có tạo lập được thửa đất diện tích 970m² tại thôn K, xã C; được Ủy ban nhân dân huyện T (UBND cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận) số BH 618776 ngày 31-5-2011 cho hộ cụ Phạm Công Q. Thửa đất có đặc điểm: Phía Bắc giáp đất hộ ông Hoàng Đình T2 (hiện ông Phạm Công B đang sử dụng do nhận chuyển nhượng từ ông T2) dài 43,9m; phía Đông giáp đất canh tác hộ cụ Q dài 21,1m; phía Tây giáp đất hộ bà Phạm Thị D dài 46,7m; phía Nam giáp ngõ xóm rộng 5,5m và dài 22,6m. Gia đình cụ Q sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp về ranh giới, mốc giới với các hộ liền kề. Các cụ chết không để lại di chúc. Ngày 27-04-2023 các bà L, L1, H, T làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với thửa đất nêu trên, đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T xác nhận nội dung đăng ký biến động trong Giấy chứng nhận.

Khi các bà L, L1, H, T thực hiện đo đạc lại đất để làm thủ tục tách thửa đối với phần đất được chia thừa kế thì phát hiện thửa đất của gia đình các bà bị thiếu diện tích 69m² so với Giấy chứng nhận do bị ông B, bà D lấn chiếm; cụ thể: Phần đất giáp đất ông Phạm Công B thiếu 17m² (ngang 1,26m, dài 13,5m); phần đất giáp đất bà D thiếu 52m² (ngang 2,6m, dài 20m). Giữa ông B và chị em bà L đã hoà giải thống nhất được với nhau về việc giải quyết đối với phần đất lấn chiếm. Về phía bà D không hợp tác giải quyết tranh chấp mặc dù đã được UBND xã C, huyện T tiến hành hoà giải.

Để đảm bảo quyền lợi của mình, bà L khởi kiện yêu cầu Toà án: Buộc bà Phạm Thị D, ông Phạm Minh N trả cho gia đình bà phần diện tích 20,47m² (gồm các mốc A, B, C, 3-1 trong sơ đồ hiện trạng thửa đất) là diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ cụ Q. Buộc bà D, ông N phải tôn trọng ranh giới theo Giấy chứng nhận đã cấp cho các bên.

Tuy nhiên, do gia đình cụ Q đã xây dựng tường bao làm ranh giới, mốc giới đất với gia đình bà D, ông N và sử dụng ổn định từ năm 2011 đến nay, không có tranh chấp; hai bên gia đình đều đã được cấp Giấy chứng nhận nên tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án công nhận ranh giới, mốc giới quyền sử dụng giữa thửa đất 55 (gia đình bà L đang sử dụng) và thửa đất 57 (gia đình bà D đang sử dụng) là bức tường bao gạch chỉ (có mốc 10, 3-1, A trong sơ đồ hiện trạng); các bên tôn trọng và sử dụng đất theo đúng ranh giới này.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn (bà Phạm Thị D); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn (ông Phạm Minh N, anh Phạm Khắc A) thống nhất trình bày:

Thửa đất của gia đình bà D đang sử dụng là do nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Công L4, bà Phạm Thị H1 từ năm 2003; đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận ngày 18-5-2018 cho ông Phạm Minh N, bà Phạm Thị D. Toàn bộ đất và tài sản xây dựng trên đất là của bà D, ông N, không liên quan gì đến các con hay ai khác. Thửa đất của gia đình bà D thời điểm nhận chuyển nhượng có một phần đất khoảng 45m² ở phía giáp đường nhô về phía đất gia đình cụ Q. Khoảng năm 2010, gia đình cụ Q (lúc này cụ Q vẫn sống, khoẻ mạnh, minh mẫn) làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất của gia đình mình nên đã sang nói chuyện với bà D, ông N xin phần đất khoảng 45m² nêu trên; ông bà đồng ý bằng lời nói (hai bên không làm văn bản) cho gia đình cụ Q phần đất này. Sau khi gia đình cụ Q được cấp Giấy chứng nhận, khoảng năm 2011 gia đình cụ Q đã xây tường bao ngăn cách hai thửa đất, đến nay phần tường bao này vẫn còn; quá trình gia đình cụ Q xây tường bao và tài sản trên đất thì gia đình bà D, ông N biết nhưng không có ý kiến gì. Toàn bộ tường bao giáp ranh giữa hai thửa đất (cả phía trước và phía sau) đều do gia đình cụ Q tự xây để xác định ranh giới, mốc giới; hai bên sử dụng đất đến cuối năm 2023 không xảy ra tranh chấp.

Khoảng đầu năm 2024, gia đình bà L, bà L1 tự mời người về đo đạc thửa đất, không thông báo với gia đình bà D, sau đó mang tài liệu sang đề nghị bà D ký giáp ranh. Tuy nhiên do bà D, ông N không chứng kiến quá trình đo đạc nên đề nghị kiểm tra lại. Sau đó gia đình bà L, bà L1 không bàn bạc, thỏa thuận với gia đình bà D mà làm đơn khởi kiện buộc vợ chồng bà trả lại diện tích đất lấn chiếm. Do gia đình bà D từ trước đến nay không lấn chiếm đất của gia đình cụ Q nên không chấp nhận việc bà L, bà L1 khởi kiện đối với bà D.

Thời điểm xảy ra tranh chấp, bà D đã gặp công chức địa chính xã C, được xem sơ đồ, nhận thấy hiện tại phần tường ranh giới phía trước thửa đất của gia đình cụ Q xây sang đất của gia đình bà một phần diện tích khoảng 07m² (rộng 0,6m về phía đất cụ Q tính từ mép bờ ao, dài 19m thu đến một điểm trên bức tường bao hiện nay).

Vì vậy, bà D đã có yêu cầu phản tố buộc gia đình cụ Q (gia đình bà L đang quản lý, sử dụng đất) phải trả lại cho vợ chồng ông bà diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 86,57m² (có các mốc 10, 9, 8, 8-1, 3-2, 3-1 và 10 trong sơ đồ hiện trạng). Tuy nhiên, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải bà D thay đổi yêu cầu phản tố, buộc gia đình cụ Q trả lại cho vợ chồng bà D, ông N diện tích đất 45m² trước đây ông bà đã cho gia đình cụ Q và phần diện tích khoảng 07m² mà gia đình cụ Q đã xây tường lấn sang đất của gia đình ông bà, tổng là 52m². Đối với phần diện tích đất bà L đang kiện đòi, bà D, ông N đề nghị Tòa án căn cứ vào Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ cụ Q để xác định, nếu có phần đất nào trong Giấy chứng hận của cụ Q hiện nằm trong phần ruộng canh tác của ông bà thì đồng ý trả lại.

Hồ sơ địa chính do UBND xã C, huyện T quản lý, hiện có: Bản đồ, sổ mục kê kèm theo bản đồ năm 1972; Bản đồ, sổ mục kê kèm theo bản đồ năm 1984 và Bản đồ, sổ mục kê kèm theo bản đồ năm 2006, sổ địa chính; ngoài ra không còn tài liệu nào khác. Tuy nhiên, bản đồ năm 1984 đã bị cũ, rách, không hoàn chỉnh, có nhiều phần của bản đồ bị thiếu, mất.

- Về nguồn gốc và việc quản lý đối với các thửa đất:

+ Theo Bản đồ giải thửa và sổ mục kê năm 1972: Vị trí thửa đất của hộ cụ Phạm Công Q gồm 2 thửa: Thửa 201, tờ bản đồ 01, diện tích 551m², loại đất thổ cư; Thửa 163, tờ bản đồ 01, diện tích 371m², loại đất ao. Cả hai thửa trên đều ghi tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Thị L3 (vợ cụ Q); ghi chú: Xã viên để lại.

Vị trí thửa đất của ông Phạm Minh N, bà Phạm Thị D gồm 3 thửa: Thửa 164, tờ bản đồ 01, diện tích 242m², loại đất 2 lúa; Thửa 199, tờ bản đồ 01, diện tích 194m², loại đất ao cá; Thửa 200, tờ bản đồ 01, diện tích 911m², loại đất thổ cư. Thửa 199 và 200 ghi tên chủ sử dụng đất là Phạm Công N1, ghi chú: Xã viên để lại; Thửa 194 ghi tên chủ sử dụng đất Phạm Công L5, ghi chú: Liu + Nghiêm 5%.

+ Theo Bản đồ giải thửa năm 1984: Phần vị trí thửa đất của hộ cụ Q và ông N, bà D bị rách, mất một phần, chỉ thể hiện một phần thửa đất của hộ cụ Q là thửa 949 và thửa 932, tờ bản đồ 02; một phần thửa đất của ông N, bà D là thửa 933, tờ bản đồ 02.

Trong sổ mục kê kèm theo bản đồ năm 1984 thể hiện: Thửa 949, tờ bản đồ 02, diện tích 551m², loại đất thổ cư; Thửa 932, diện tích 371m², loại đất ao cá; chủ sử dụng đất của cả 2 thửa là Nguyễn Thị L3. Thửa 933, tờ bản đồ 02, diện tích 242m², loại đất 2 lúa, chủ sử dụng đất là Phạm Công L6. Ngoài ra, trong sổ mục kê tờ bản đồ 02 còn có thông tin chủ sử dụng đất Phạm Công L6 với 04 thửa đất khác gồm: Thửa 934, diện tích 196m², loại đất thổ cư; Thửa 935, diện tích 360m², loại đất 2 lúa %; Thửa 947, diện tích 194m², loại đất ao cá; Thửa 948, diện tích 911m², loại đất thổ cư.

Thực tế ghi tên Phạm Công L5, Phạm Công N1 (trong sổ mục kê năm 1972) và Phạm Công L6 (trong sổ mục kê năm 1984) là do ghi sai chính tả, đều chỉ một người là cụ Phạm Công L6 (bố ông Phạm Công L4), là chủ sử dụng đất cũ trước khi chuyển nhượng cho vợ chồng ông N, bà D.

+ Theo Bản đồ giải thửa, sổ mục kê kèm theo bản đồ năm 2006: Thửa đất của hộ cụ Q là thửa 55, tờ bản đồ 08, diện tích 1065,1m², loại đất ở, tên chủ sử dụng Phạm Công Q; Thửa đất của ông N, bà D là thửa 57, tờ bản đồ 08, diện tích 830m³, có gạch sửa thành 736m², loại đất ở, tên chủ sử dụng đất Phạm Thị H2 (bà H2 là vợ ông L4, là chủ sử dụng đất cũ), có gạch sửa thành Phạm Thị D.

- Về việc các thông tin chủ sử dụng đất và diện tích thửa đất bị gạch sửa: Trước đây thửa đất 57 là của gia đình ông Phạm Công L4, bà Phạm Thị H2 sử dụng; sau này gia đình ông L4, bà H2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông N, bà D. UBND xã không lưu giữ tài liệu về việc chuyển nhượng đất, không biết thời điểm chuyển nhượng. Về việc gạch sửa diện tích: UBND xã không biết lý do, thời điểm gạch sửa diện tích thửa đất và ai là người gạch sửa. Khi bà H3 nhận bàn giao công tác địa chính và sổ sách đã có sự gạch sửa này rồi.

Sổ địa chính là sổ theo dõi việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tại trang số 85 ghi thông tin tên chủ sử dụng đất là hộ ông Phạm Công Q được cấp Giấy chứng nhận đối với thửa 55, tờ bản đồ 08, diện tích 970m², mục đích làm nhà ở lâu dài; ngày cấp 31-5-2011, ngày vào sổ địa chính 20-6-2012.

Tại trang số 105 ghi thông tin tên chủ sử dụng đất là ông Phạm Minh N, bà Phạm Thị D được cấp Giấy chứng nhận đối với thửa 57, tờ bản đồ 08, diện tích 736m², mục đích làm nhà ở lâu dài; ngày cấp 18-5-2018, ngày vào sổ địa chính 23-5-2018.

- Về quá trình sử dụng và tranh chấp liên quan đến 2 thửa đất: Từ trước đến nay, giữa hộ cụ Q và gia đình ông N, bà D không có tranh chấp gì về việc sử dụng đất, các gia đình đã xây tường bao ngăn cách giữa các thửa đất và sử dụng ổn định. Về việc thoả thuận đổi đất, tặng cho đất, các gia đình tự thoả thuận, thực hiện, không thông báo nên UBND xã không nắm được. Khoảng tháng 11-2023, UBND xã C nhận được đơn của bà Phạm Thị L đề nghị hoà giải tranh chấp liên quan đến ranh giới giữa 2 thửa đất 55 và 57, tờ bản đồ 08 nên UBND xã đã mời các bên lên hoà giải nhưng bà D không tham gia, hoà giải không thành.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thể hiện (kèm sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và phương án tính giá trị quyền sử dụng đất, tài sản trên đất):

Phần đất tranh chấp: Đất ở trị giá 2.000.000đ/m², đất nông nghiệp trị giá 72.000đ/m². Phần tài sản trên diện tích đất tranh chấp có tổng giá trị 286.492.509 đồng.

Phần đất tranh chấp: Diện tích đất 20,47m² đã được cấp Giấy chứng nhận cho hộ cụ Q (gồm các mốc A, B, C, 3-1). Phần đất bị đơn cho rằng gia đình cụ Q đã xây tường bao lấn chiếm có diện tích 5,7m² (gồm các mốc 3-1, 3-2, 3-3). Phần đất bị đơn cho rằng đã cho gia đình cụ Q có diện tích 45m² (gồm các mốc 3-3, 3-4, 8-1, 8, 10).

Các đương sự đều thống nhất: Phần tường bao (gồm các mốc 10, 3-3, A, 3) là tài sản do gia đình cụ Q đầu tư, xây dựng; không có ý kiến gì về kết quả và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về ranh giới quyền sử dụng đất.

Về nội dung: Căn cứ vào nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, xây dựng tài sản trên đất, lời khai của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 200, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 155, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176, Điều 254, Điều 459 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 167, Điều 170, Điều 171, Điều 188 và Điều 203 của Luật Đất đai 2013; khoản 2, 5 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thị L về việc xác định ranh giới đất với bị đơn là bà Phạm Thị D. Xác định bức tường bao 110 xây gạch chỉ (gồm các mốc 10, 3-3, 3-1, A trong sơ đồ hiện trạng) do gia đình cụ Phạm Công Q đầu tư, xây dựng là ranh giới, mốc giới quyền sử dụng giữa hai thửa đất số 55, tờ bản đồ số 08 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 618776, vào sổ cấp GCN: CH 01852 ngày 31-5-2011 cấp cho hộ ông Phạm Công Q) và thửa đất số 57, tờ bản đồ số 08 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 168473, vào sổ cấp GCN: CH 02302 ngày 18-5-2018 cấp cho hộ ông Phạm Minh N, bà Phạm Thị D); địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng.

- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là bà Phạm Thị D về việc yêu cầu Tòa án buộc gia đình cụ Phạm Công Q phải trả lại cho vợ chồng bà Phạm Thị D, ông Phạm Minh N diện tích đất 45m² (gồm các mốc 3-3, 3-4, 8-1, 8, 10 trong sơ đồ hiện trạng) trước đây ông N, bà D đã cho gia đình cụ Q và phần diện tích đất 5,7m² (gồm các mốc 3-1, 3-2, 3-3 trong sơ đồ hiện trạng) mà gia đình cụ Q đã xây tường bao lấn sang đất của vợ chồng bà D, ông N.

- Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng; yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Phạm Thị D phải thanh toán cho bà Phạm Thị L số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.600.000 đồng.

- Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là bà Phạm Thị L khởi kiện và bị đơn là bà Phạm Thị D phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tại xã C, huyện T. Đây là vụ án dân sự tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; các đương sự, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại.

[2] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án công nhận ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất số 55 (hiện gia đình bà Phạm Thị L đang sử dụng) và thửa đất số 57 (hiện gia đình bà Phạm Thị D đang sử dụng) là bức tường bao gạch chỉ (gồm các mốc 10, 3-3, 3-1, A trong sơ đồ hiện trạng). Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào khoản 3 Điều 155 và điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất.

[4] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn là bà Phạm Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị H vắng mặt nhưng người đại diện hợp pháp là bà Phạm Thị L1 có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn C, anh Phạm Bảo T1 và chị Nguyễn Thị L2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Phạm Khắc A vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

- Về nội dung vụ án:

[5] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Thửa đất 55, tờ bản đồ 08, địa chỉ thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có nguồn gốc từ cụ Phạm Công Q sử dụng trước năm 1980; đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận) số BH 618776, vào sổ cấp GCN số CH 01852 ngày 31-5-2011 cho hộ ông Phạm Công Q. Thửa đất 57, tờ bản đồ 08, địa chỉ thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có nguồn gốc do bà Phạm Thị D, ông Phạm Minh N nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Công L4, bà Phạm Thị H1 từ năm 2003; đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận số CN 168473, vào sổ cấp GCN số CH 02302 ngày 18-5-2018 cho ông Phạm Minh N, bà Phạm Thị D. Quá trình sử dụng đất năm 2011, gia đình cụ Q đã xây tường bao ngăn cách giữa hai thửa đất 55 và 57; sử dụng ổn định không xảy ra tranh chấp.

[6] Bị đơn là bà Phạm Thị D trình bày thời điểm năm 2010, khi cụ Q làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với thửa 55, tờ bản đồ số 08 nêu trên đã sang nói chuyện với vợ chồng bà D, ông N xin phần đất có diện tích 45m² (là phần đất tranh chấp có các mốc 3-3, 3-4, 8-1, 8, 10 trong sơ đồ hiện trạng); vợ chồng bà D, ông N đã đồng ý cho cụ Q phần đất này. Đồng thời bị đơn cũng thừa nhận đã ký vào Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng thửa đất, tài sản gắn liền với đất ngày 14-3-2011 trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho hộ cụ Q và cụ Q đã ký vào Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng thửa đất, tài sản gắn liền với đất ngày 22-12-2016 trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho ông N, bà D; sau khi được cấp Giấy chứng nhận, khoảng năm 2011 gia đình cụ Q đã xây tường bao ngăn cách hai thửa đất của gia đình cụ Q và gia đình bà D, đồng thời xây dựng các tài sản khác trên phần đất tranh chấp, sử dụng ổn định đến cuối năm 2023 không xảy ra tranh chấp.

Phía nguyên đơn cũng thừa nhận gia đình cụ Q được vợ chồng bà D, ông N cho phần diện tích đất 45m² nêu trên nên đã không yêu cầu vợ chồng bà D, ông N phải trả lại phần đất có diện tích diện tích 20,47m² đã được cấp Giấy chứng nhận cho hộ cụ Q (gồm các mốc A, B, C, 3-1 trong sơ đồ hiện trạng); mà chỉ yêu cầu công nhận ranh giới, mốc giới đất theo hiện trạng hai gia đình đang sử dụng là bức tường bao do gia đình cụ Q xây dựng năm 2011.

Trình bày của các đương sự phù hợp với sơ đồ trong Giấy chứng nhận cấp cho hộ cụ Q và Giấy chứng nhận cấp cho ông N, bà D; đồng thời phù hợp với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23-5-2024 của Toà án đều thể hiện phần giáp ranh giữa hai thửa đất số 55 và 57 là phần tường bao do gia đình cụ Q xây dựng có chiều dài khoảng 29m.

Như vậy, có căn cứ xác định việc tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên giữa vợ chồng bà D, ông N và cụ Q đã hoàn thành vì hai gia đình đều đã được cấp Giấy chứng nhận, xây dựng tài sản trên và sử dụng ổn định nhiều năm không xẩy ra tranh chấp. Đồng thời không có căn cứ xác định việc gia đình cụ Q đã xây tường bao lấn sang phần đất có diện tích đất 5,7m² của vợ chồng bà D, ông N.

[7] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc gia đình cụ Q phải trả lại cho vợ chồng bà D, ông N diện tích đất 45m² (gồm các mốc 3-3, 3-4, 8-1, 8, 10 trong sơ đồ hiện trạng) trước đây bà D, ông N đã cho gia đình cụ Q và phần diện tích đất 5,7m² (gồm các mốc 3-1, 3-2, 3-3 trong sơ đồ hiện trạng) mà gia đình cụ Q đã xây tường bao lấn sang đất của vợ chồng bà D, ông N.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất 55, tờ bản đồ 08 của gia đình cụ Q và thửa đất 57, tờ bản đồ 08 của vợ chồng bà D, ông N; địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng là bức tường bao 110 xây gạch chỉ (gồm các mốc 10, 3-3, 3-1, A trong sơ đồ hiện trạng) do gia đình cụ Q đầu tư, xây dựng.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng; yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nguyên đơn đã nộp tạm ứng là 11.200.000 đồng và đã chi phí hết. Căn cứ khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng. Tuy nhiên tại phiên toà nguyên đơn nhận chịu ½ chi phí tố tụng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 5.600.000 đồng (11.200.000₫ : 2).

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 200, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 155, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176, Điều 254, Điều 459 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 166, Điều 167, Điều 170, Điều 171, Điều 188 và Điều 203 của Luật Đất đai 2013;

Căn cứ khoản 2, 5 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thị L về việc xác định ranh giới, mốc giới đất với bị đơn là bà Phạm Thị D.

Xác định bức tường bao 110 xây gạch chỉ (gồm các mốc 10, 3-3, 3-1, A trong sơ đồ hiện trạng) do gia đình cụ Phạm Công Q đầu tư, xây dựng là ranh giới giữa hai thửa đất số 55, tờ bản đồ số 08 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 618776, vào sổ cấp GCN số CH 01852 ngày 31-5-2011 cấp cho hộ ông Phạm Công Q) và thửa đất số 57, tờ bản đồ số 08 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 168473, vào sổ cấp GCN số CH 02302 ngày 18-5-2018 cấp cho hộ ông Phạm Minh N, bà Phạm Thị D); địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng.

(Vị trí, kích thước, ranh giới có sơ đồ kèm theo).

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là bà Phạm Thị D về việc yêu cầu Tòa án buộc gia đình cụ Phạm Công Q phải trả lại cho vợ chồng bà Phạm Thị D, ông Phạm Minh N diện tích đất 45m² (gồm các mốc 3-3, 3-4, 8-1, 8, 10 trong sơ đồ hiện trạng) trước đây ông N, bà D đã cho gia đình cụ Q và phần diện tích đất 5,7m² (gồm các mốc 3-1, 3-2, 3-3 trong sơ đồ hiện trạng) mà gia đình cụ Q đã xây tường bao lấn sang đất của vợ chồng bà D, ông N.

3. Về án phí: Bị đơn là bà Phạm Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (do ông Phạm Minh N nộp thay) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009068 ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Bà Phạm Thị D còn phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Phạm Thị D phải thanh toán cho bà Phạm Thị L số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.600.000 (Năm triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng về tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 13/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BADS tranh chấp ranh giới L-D 13.25.9.2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger