|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2023/KDTM-ST. Ngày: 25/8/2023. V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung;
- 2. Ông Nguyễn Ngọc Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Hiếu – C/v Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 118/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2023/QĐXX-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên tòa số 171/2023/QÐST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C.
Địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện ký đơn khởi kiện theo ủy quyền: Ông Phan Trung H – Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C chi nhánh tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số C N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền: Ông Đỗ Vinh Q – C/v: Trưởng phòng bán lẻ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
(Văn bản ủy quyền số 733/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc ủy quyền thường xuyên tham gia tố tụng)
- Bị đơn: Bà Tống Thị Minh N – Sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày có nội dung như sau:
Bà Tống Thị Minh N là khách hàng vay vốn tại Ngân hàng TMCP C – chi nhánh tỉnh Đ.
Ngày 13 tháng 7 năm 2022, bà Tống Thị Minh N ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 22.72.0080/2022-HĐCVHM/NHCT502 để vay vốn tại Ngân hàng TMCP C – chi nhánh tỉnh Đ, số tiền vay: 2.400.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh thức ăn gia súc, thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 13/7/2022 đến ngày 13/7/2023), lãi suất cho vay: 8.5%/năm và được điều chỉnh theo thông báo của bên cho vay.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 12 tháng 7 năm 2022, Ngân hàng TMCP C – chi nhánh tỉnh Đ và bà Tống Thị Minh N đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 22.72.0080/2022/HĐBĐ/NHCT502, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất số 1255, tờ bản đồ số 25 (số cũ: 33), diện tích 619,7 m², tọa lạc tại xã E, thành phố B, Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 068596 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/09/2017 cho bà Tống Thị Minh N và các tài sản gắn liền với đất. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay, bà Tống Thị Minh N thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng đến ngày 21/12/2022, sau đó bà N không thanh toán tiền gốc và lãi vay cho Ngân hàng, khoản vay nói trên của bà Tống Thị Minh N đã phát sinh nợ quá hạn từ ngày 01/02/2023.
Ngân hàng cũng đã nhiều lần đôn đốc, đã nhiều lần gọi điện, đến gặp trực tiếp để cùng bà N tháo gỡ những khó khăn trong việc trả nợ; nhưng bà N không hợp tác, trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và không bàn giao tài sản thế chấp để Ngân hàng xử lý thu hồi nợ. Vì vậy, Ngân hàng TMCP C khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết, buộc bị đơn bà Tống Thị Minh N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng:
- + Nợ gốc: 2.400.000.000 đồng.
- + Nợ lãi: 184.167.483 đồng (tạm tính đến ngày 25/8/2023)
và tiếp tục trả lãi suất phát sinh cho đến khi bà Tống Thị Minh N thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 22.72.0080/2022-HĐCVHM/NHCT502 đã ký giữa Ngân hàng và bà Tống Thị Minh N, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Trong trường hợp bà Tống Thị Minh N không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 22.72.0080/2022/HĐBĐ/NHCT502 để thu hồi nợ.
- Đối với bị đơn bà Tống Thị Minh N, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà Tống Thị Minh N, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật, nhưng bà N không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có ý kiến trình bày và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm như sau:
- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP C. Tuyên buộc bà Tống Thị Minh N thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 2.584.167.483 đồng; trong đó: Nợ gốc là 2.400.000.000 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 25/8/2023 là 184.167.483 đồng, và tiếp tục trả lãi suất phát sinh cho đến khi bà Tống Thị Minh N thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 22.72.0080/2022-HĐCVHM/NHCT502, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp bà Tống Thị Minh N không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 22.72.0080/2022/HĐBĐ/NHCT502 ngày 12/7/2022 để thu hồi nợ.
Về án phí và chi phí tố tụng: Bà Tống Thị Minh N phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C là tổ chức có đăng ký kinh doanh, bà Tống Thị Minh N – địa chỉ nơi cư trú: Số A buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là cá nhân có đăng ký kinh doanh đã được cấp giấy chứng nhận hộ kinh doanh số 40A8043996 do phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố B cấp ngày 24/9/2021, mục đích vay tiền để bổ sung vốn lưu động kinh doanh thức ăn gia súc. Đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng TMCP C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Tống Thị Minh N được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do lần thứ hai, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về số tiền vay:
Căn cứ vào lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 13 tháng 7 năm 2022, bà Tống Thị Minh N có ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 22.72.0080/2022-HĐCVHM/NHCT502 với Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh tỉnh Đ, để vay số tiền 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 13/7/2022 đến ngày 13/7/2023). Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay theo Giấy nhận nợ số [...] ngày 14/7/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Tống Thị Minh N thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng đến ngày 21/12/2022, sau đó bà N không thanh toán tiền gốc và lãi vay cho Ngân hàng, khoản vay của bà Tống Thị Minh N đã phát sinh nợ quá hạn từ ngày 01/02/2023. Như vậy, bà Tống Thị Minh N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán thỏa thuận tại Điều 3 của hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Tống Thị Minh N có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc là 2.400.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 25/8/2023 là 184.167.483 đồng, và tiếp tục trả lãi suất phát sinh là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[3.2] Về tài sản thế chấp:
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay nói trên, Ngân hàng TMCP C – chi nhánh tỉnh Đ và bà Tống Thị Minh N đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 22.72.0080/2022/HĐBĐ/NHCT502, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất số 1255, tờ bản đồ số 25 (số cũ: 33), diện tích 619,7 m², tọa lạc tại xã E, thành phố B, Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 068596 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/09/2017 cho bà Tống Thị Minh N và các tài sản gắn liền với đất.
Xét hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng và bà Tống Thị Minh N là hoàn toàn tự nguyện, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Qua xác minh, tài sản thế chấp nêu trên hiện do bà Tống Thị Minh N quản lý và sử dụng, không có tranh chấp với ai và không liên quan đến ai khác. Do đó trường hợp bà Tống Thị Minh N không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật; Trường hợp bà Tống Thị Minh N trả hết nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng có nghĩa vụ xóa thế chấp và trả lại các giấy tờ về tài sản thế chấp nêu trên cho bà Tống Thị Minh N.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Tống Thị Minh N phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm sơ thẩm cụ thể: 72.000.000 đồng + (584.167.483 x 2%) = 83.683.349 đồng.
Ngân hàng TMCP C không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được nhận lại khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Tống Thị Minh N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền 1.500.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được của bà Tống Thị Minh N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 158; Điều 220; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 317; Điều 318; Điều 323; Điều 463; Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C.
- Buộc bà Tống Thị Minh N có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền 2.584.167.483 đồng (Hai tỷ, năm trăm tám mươi tư triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng); trong đó:
- + Nợ gốc: 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm triệu đồng).
- + Nợ lãi (tạm tính đến ngày 25/8/2023): 184.167.483 đồng (Một trăm tám mươi tư triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng).
Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 26/8/2023 trên số nợ gốc vay theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 22.72.0080/2022-HĐCVHM/NHCT502 ngày 13/7/2022.
- Trường hợp bà Tống Thị Minh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất số 1255, tờ bản đồ số 25 (số cũ: 33), diện tích 619,7 m², tọa lạc tại xã E, thành phố B, Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 068596 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/9/2017 cho bà Tống Thị Minh N và các tài sản gắn liền với đất, để thu hồi nợ.
Trường hợp bà Tống Thị Minh N thanh toán đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng có nghĩa vụ xóa thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 068596 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/9/2017 cho bà Tống Thị Minh N.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
Về án phí: Bà Tống Thị Minh N phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 83.683.349 đồng (Tám mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi chín đồng).
Ngân hàng TMCP C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột là 40.516.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm mười sáu nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0001645 ngày 30/3/2023.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Tống Thị Minh N phải chịu 1.500.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền 1.500.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được của bà Tống Thị Minh N.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Dương |
Bản án số 13/2023/KDTM-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Buộc bà N thanh toán nợ và xử lý tài sản thế chấp
