|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số:13/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 25/4/2024
V/v: “Ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Quân
Bà Đoàn Thị Hương Nhu
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 16, 17 và 25 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm, thụ lý số 02/2024/TLPT-HNGĐ ngày 08/01/2024, về việc “Ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng”. Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ- ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXPT - HNGĐ ngày 07/3/2024; Thông báo thay đổi thời mở phiên tòa số 230/TB-TA ngày 01/4/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 07/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 17/4/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1970
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thế M, sinh năm 1967;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng C (viết tắt V2); Địa chỉ: A T, quận H, TP Hà Nội.
Đều trú tại: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B- Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T1- Phó giám đốc Ngân hàng V2- Khu Công nghiệp H; Ông Nguyễn Tiến D- Trưởng phòng bán lẻ Ngân hàng
V2- Khu Công nghiệp H.
- Ông Trần Quang K, sinh năm 1971- Chủ Doanh nghiệp tư nhân H3 (gọi tắt là H3):
Địa chỉ trụ sở doanh nghiệp: Cầu Ràm, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Chỗ ở hiện nay: số F, T, phường H, TP H, tỉnh Hải Dương.
- UBND xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Tấn Văn D1- Chủ tịch UBND xã P.
- Anh Nguyễn Thế T2, sinh năm 1973, ĐKHKTT: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bà Phạm Thị V, sinh năm 1954;
- Bà Nguyễn Thị M1 (tức S), sinh năm 1964;
- Ông Nguyễn Thế T3, sinh năm 1957.
- Ông Nguyễn Thế N, sinh năm 1953,
ĐKHKTT: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương.
ĐKHKTT: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương.
ĐKHKTT: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương.
(Bà V, ông T3, bà M1 ủy quyền cho anh T2 tham gia tố tụng)
Địa chỉ: số nhà B, ngõ A, N, phường N, quận C, TP Hà Nội;
- Những người làm chứng:
- Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1948;
- Ông Phạm Đăng H, sinh năm 1951;
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1969;
Đều trú tại: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương;
Trú tại: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thế M, bà Nguyễn Thị M1, Ngân hàng C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41 /2023/HNGĐ- ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như như sau:
- Theo nguyên đơn- bà Đặng Thị T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thế M kết hôn năm 1991, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P ngày 18/02/1991. Sau khi kết hôn, ông bà sống chung với bố mẹ chồng ở cùng thôn một thời gian. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt cũng như làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Bên cạnh đó, ông M chơi bời lô đề, cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều, có lối sống không chung thủy, có người phụ nữ khác. Sau đó ông M đi làm ăn tự do nay đây mai đó, mỗi tháng về nhà khoảng 1 lần rồi lại đi,
mọi lo toan sinh hoạt cho các con ăn học đều do một mình bà gánh vác nên vợ chồng liên tục xẩy ra xô xát, cãi vã. Ông M nhiều lần đánh bà, đập phá đồ đạc trong gia đình. Do mâu thuẫn quá lớn nên từ năm 2011 vợ chồng ly thân, không còn quan tâm đến nhau, công việc của ai người đó làm, kinh tế của ai người đó lo, không ai nói với ai. Nay bà đã suy nghĩ kỹ và xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và kéo dài nhiều năm nay. Vì vậy, đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông M để hai bên ổn định cuộc sống.
- Theo bị đơn - ông Nguyễn Thế M trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn của vợ chồng như bà T đã trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở cùng với bố mẹ ông một thời gian thì ra ở riêng tại khu chuyển đổi. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2007 thì xẩy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt. Bà T không hiểu nên nghi ngờ ông không chung thủy, có người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng xảy ra xô xát, cãi vã, đánh nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng quá lớn nên từ năm 2012 vợ chồng đã sống ly thân, công việc của ai người đó làm, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà T xin ly hôn, ông hoàn toàn nhất trí.
- Về con chung:
Bà T và ông M đều xác định: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thị B1, sinh năm 1992, Nguyễn Thị X, sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Thị Q, sinh năm 2001. Các con đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản:
Bà T, ông M đều thống nhất xác định vợ chồng có tài sản chung là ngôi nhà mái bằng do vợ chồng xây dựng khoảng năm 1994-1995 bằng việc vợ chồng đóng gạch cộng với anh em hỗ trợ, thửa đất ông bà đang tranh chấp có nguồn gốc của bố mẹ ông M là cụ Nguyễn Thế R và cụ Nguyễn Thị R1 và thống nhất xác định có việc bố mẹ ông M cho đất vợ chồng.
Tuy nhiên, theo ông M, khi còn sống bố mẹ ông chỉ cho 06 thước và sau khi cụ R chết, cụ R1 có di chúc cũng chỉ cho 06 thước tương ứng với khoảng 150m². Thời điểm năm 2000, do có nhu cầu vay vốn nên ông nhờ địa chính xã P làm hộ bìa đỏ để vay vốn ngân hàng làm ăn, chăn nuôi. Sau đó cán bộ địa chính xã đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông cầm đi thế chấp cũng không để ý diện tích bao nhiêu m². Mãi đến năm 2012, ông mới biết giấy chứng nhận ghi 392m² là không đúng với thực tế diện tích mà bố mẹ ông đã cho vợ chồng. Năm 2010, cháu ông là anh Nguyễn Thế T2 nhờ ông đứng ra thế chấp nhà đất để cho Doanh nghiệp tư nhân H3 (viết tắt H3) vay vốn nên ông có đứng ra thế chấp thửa đất số 287, tờ bản đồ số 4, diện tích 392m² tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/7/2000, để H3 vay vốn của Ngân hàng C - Chi nhánh K1. Tổng số tiền H3 vay 500.000.000 đồng, có hợp đồng thế chấp, chỉ có ông ký còn bà T không ký vào hợp đồng thế chấp, còn ai ký ông không biết. Đến nay, ông cũng không biết DNTN Hoàng Y đã trả hết nợ cho Ngân hàng chưa, chủ Doanh nghiệp là ai, vợ chồng ông không vay tiền, không sử
dụng tiền vay. Vì vậy ông đề nghị giải quyết hợp đồng thế chấp số LN1910086C/KCNHD ngày 01/11/2010 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Thế M với bên nhận thế chấp là Ngân hàng V2 khu Công nghiệp Hải Dương theo quy định của pháp luật. Đến nay, ông xác định tài sản chung của vợ chồng chỉ có 150m² đất chứ không phải toàn bộ diện tích 385,1m² (theo xác định của bà T) hoặc 349,3m² theo xác định của ông và ngôi nhà mái bằng trên đất, ngoài ra không còn tài sản gì khác. Các tài sản còn lại trên đất là của bà Nguyễn Thị M1 (tức S) chị gái ông.
Năm 1993, hộ gia đình ông có được chia đất 03 (đất nông nghiệp) cho ba khẩu gồm ông, bà T và chị B1 (con), theo tiêu chuẩn ở địa phương, mỗi người được chia 01 sào 06 thước Bắc bộ, tương ứng 504m². Tuy nhiên do trước đó ông ở với cụ R1 nên bị trừ đất nông nghiệp ngoài đồng vào đất vườn thừa, tổng diện tích của ba người gồm mẹ ông (cụ R1), bà M1 (tức S) và ông, mỗi người bị trừ 03 thước, như vậy ông chỉ được chia ruộng 01 sào 03 thước bằng 432m², còn bà T, chị B1 vẫn được chia đủ 01 sào 06 thước. Do đây là đất nông nghiệp chia theo khẩu, là của riêng ông bị trừ trước khi lấy bà T nên ông không nhất trí nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp Tòa án xác định thửa đất là của vợ chồng, đề nghị trích trả ông diện tích đất nông nghiệp trừ vào đất vườn, còn lại mới phân chia. Ông xin lấy nhà đất và trả giá trị tài sản cho bà T bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá đã xác định. Cụ thể ông trả cho bà T 75m² đất trị giá 150.000.000 đồng. Trường hợp bà T muốn chia bằng hiện vật, ông cũng đồng ý, nhưng chỉ chia cho bà T 75m² đất theo khuôn viên đất có 01 gian nhà mái bằng phía trong, còn riêng 01 gian nhà mái bằng phía ngoài có bàn thờ gia tiên, ông xin lấy phần đất đó sử dụng.
Bà T xác định thửa đất số 287, tờ bản đồ số 4, diện tích 392m² là tài sản chung của vợ chồng, được bố mẹ chồng cho sau khi ông bà kết hôn, trên đất có nhà mái bằng, thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng. Bà không đồng ý với bản di chúc của cụ R1 và đề nghị Tòa án tuyên bố bản di chúc vô hiệu. Sau khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ theo xác định mốc giới của bà, bà nhất trí xác định thửa đất chỉ còn 385,1m² (theo kết quả thẩm định). Thời điểm năm 2010 ông M tự ý thế chấp nhà đất cho H3 do ông Trần Quang K vay tiền của Ngân hàng V2 bà không biết, không tham gia, không ký hợp đồng thế chấp, không được nhận và sử dụng tiền vay. Vì vậy bà đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp số LN1910086C/KCNHD ngày 01/11/2010 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Thế M với bên nhận thế chấp là Ngân hàng V2 vô hiệu, đề nghị Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận cho vợ chồng bà. Bà xác nhận ông M chỉ được chia 01 sào 03 thước đất nông nghiệp, hai mẹ con bà được chia đủ 01 sào 06 thước. Tuy nhiên sau đó mẹ ông M có cho ông ruộng là 01 sào 05 thước ( không có văn bản giấy tờ), ông M có thiếu nhưng không đáng kể, đề nghị Tòa án xem xét. Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình bà cũng đã được Uỷ ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998, diện tích là bao nhiêu bà không nhớ, sau đó gia đình bà đổi đất nông nghiệp cho người khác để lấy
đất lập vồng (vùng chăn nuôi), diện tích năm 2013 còn lại là 1.392m², có thiếu bà cũng không xem xét. Bà đề nghị chia đôi diện tích đất 385,1m² tại thửa đất số 287, tờ bản đồ số 4, bà xin lấy 1/2 diện tích đất có gian nhà mái bằng phía ngoài để sử dụng.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm:
Bà Phạm Thị V, ông Nguyễn Thế T3, bà Nguyễn Thị M1 (tức S), anh Nguyễn Thế T2 đều thống nhất trình bày: Bố mẹ đẻ của ông M, ông T3, bà M1 là cụ Nguyễn Thế R và cụ Nguyễn Thị R1. Cụ R lấy vợ cả là cụ Phạm Thị T5 sinh được 03 người con đã chết 02 người con từ khi còn nhỏ, chỉ còn ông Nguyễn Thế L, sinh năm 1947 (đã chết năm 1986). Sau đó cụ R lấy cụ R1 và đẻ được 05 người con gồm: ông Nguyễn Thế N; ông Nguyễn Thế T3, bà Nguyễn Thị S1 (đã chết năm 1993), bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Thế M. Ông Nguyễn Thế L có vợ là bà Phạm Thị V. Ông L và bà V sinh được 08 người con gồm: Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thế T2, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị L3, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thế T6, Nguyễn Thế Đ1. Bà Nguyễn Thị S1 có chồng là ông Phạm Đăng H. Bà S1, ông H có 03 người con gồm Phạm Đăng H1, Phạm Thị H2, Phạm Thị L4. Ông M kết hôn với bà T năm 1991, sau khi kết hôn ông M, bà T đã về ở cùng với bố mẹ trên ngôi nhà lợp dạ (đúng vị trí nhà mái bằng hiện nay đang tranh chấp). Sau đó vợ chồng ông M đóng gạch, cộng với số tiền anh em cho thì năm 1994-1995, ông bà xây được 01 nhà mái bằng 01 tầng, diện tích 48,4m². Sau khi xây nhà xong, bà T chỉ ở ngôi nhà trên khoảng một thời gian ngắn rồi chuyển ra khu đất chuyển đổi ở. Ngôi nhà trên chỉ có cụ R, cụ R1 và bà M1 ở
Cụ R chết năm 1999, trước khi chết không để lại di chúc. Sau khi cụ R chết, cụ R1 vẫn ở nhà đất trên cho đến khi cụ chết. Thời điểm năm 1999 đến năm 2000, ông M nói với cụ R1 cho mượn sổ để đi vay vốn ngân hàng, cụ R1 nói sổ đỏ chưa lấy thì xuống xã mà lấy. Sau đó ông M xuống xã tự làm sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng và đi vay vốn ngân hàng được vài năm. Năm 2003, anh Nguyễn Thế T2 biết được sự việc nên đã ra Ủy ban nhân dân xã P có ý kiến, Do vậy Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã đã có Quyết định số 14 ngày 15/11/2003 hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông M. Quyết định có đóng dấu của Uỷ ban nhân xã P, anh đã pho to để nộp cho Tòa án. Khi đó anh T2 nghĩ anh đã có ý kiến và Uỷ ban nhân dân xã đã ra Quyết định nêu trên thì sổ đỏ mà Uỷ ban nhân dân huyện đã cấp cho ông M, bà T sẽ được thu hồi về trả lại tên đất cho cụ R1. Đến khoảng năm 2010, anh Thích đ vào mượn sổ đỏ của cụ R1 để vay ngân hàng làm ăn, thì cụ R1 bảo ra nhà ông M mà lấy. Khi anh ra nhà ông M lấy sổ đỏ về thì mới biết sổ đỏ vẫn đứng tên cả hai vợ chồng ông M. Khi đó cụ R1 không đồng ý nên có bảo ông N, ông T3 và bà V (vợ ông L), bà M1 ra xã để làm lại sổ đỏ đứng tên cụ. Tuy nhiên do các con khuyên bảo cụ R1 với nội dung ông T3, ông N, ông L đều ra chỗ khác ở, chỉ còn mỗi ông M và bà M1, sớm muộn gì cũng cho cô chú ấy nên cụ không có ý kiến gì nữa. Sau này, trước khi chết khoảng 02 đến 03 năm thì cụ R1 mới có di chúc (tức khoảng năm 2016-2017). Theo nội dung di chúc thì toàn bộ thửa đất của bố mẹ
để lại cụ cho con dâu cả tức bà Nguyễn Thị V1 và anh Nguyễn Thế T2 (con ông L, bà V1) 06 thước; cho ông M 06 thước, còn lại là của cụ và bà M1, nhưng cũng không ra cắm mốc ở ngoại thực địa từ đâu đến đâu, phần cho ông M 06 thước chỉ biết từ đầu nhà ông M (hết móng nhà) cắt dọc theo hướng Bắc- N. Di chúc của cụ làm có các con và anh Thích k, không ra cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Ông T3, bà M1, anh T2, bà V1 đều thống nhất xác định tài sản của vợ chồng ông M chỉ có 06 thước đất và nhà mái bằng 01 tầng. Còn lại các tài sản trên đất gồm sân lát gạch đỏ và công trình phụ là của bà M1 bỏ tiền làm, cây cối trên đất do bà M1 trồng, không nhất trí với việc bà T xác định thửa đất có diện tích 385,1m² là của vợ chồng để phân chia. Trường hợp như vậy, đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho vợ chồng ông M, bà T.
+ Ông Nguyễn Thế N trình bày:
Việc tranh chấp tài sản giữa ông M, bà T, chỉ đề nghị Tòa án xem xét những tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Ông khẳng định thửa đất bà T yêu cầu chia không phải là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Đề nghị Tòa án xem xét việc phân chia thửa đất thành 03 suất, việc thửa đất chỉ đứng tên vợ chồng ông M là không phù hợp vì khi làm thủ tục, mọi người trong gia đình không ai biết. Ngôi nhà mái bằng không phải của riêng vợ chồng ông M mà có sự đóng góp của anh em, sau này cho vợ chồng ông M ở không có nghĩa là được sở hữu.
+ Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương do người đại diện theo pháp luật - Ông Tấn Văn D1- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 287, tờ bản đồ số 04, diện tích 392m² là của ông cha để lại, được đăng ký trong hồ sơ 299, đứng tên bố ông M là cụ Nguyễn Thế R cùng với một thửa đất khác. Năm 2000, ông M có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này và đã được Hội đồng xét duyệt xã P xét xuyệt, thuộc trường hợp bố mẹ, gia đình thống nhất tách đất cho con, không có hợp đồng tặng cho. Ông M kết hôn với bà T năm 1991, đến năm 1994-1995 vợ chồng xây dược 01 nhà mái bằng. Thời điểm ông M xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như cho đến thời điểm hiện nay trong hồ sơ không có bản di chúc của cụ R1. Thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hồ sơ không thể hiện có sự đồng ý bằng văn bản của các đồng thừa kế, cũng như sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay, địa phương không nhận được ý kiến bằng văn bản của các đồng thừa kế phản đối việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với quyết định số 14 ngày 15/11/2003 thể hiện nội dung quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, có chữ ký của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là ông Phú Mạnh T7 và có và dấu của Ủy ban nhân dân xã P, đây chỉ là bản pho to, không có cơ sở để khẳng định do Ủy ban nhân dân xã B2. Trường hợp có quyết định trên thì cũng không có giá trị, vì Ủy ban nhân dân xã không có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật đất đai. Ủy ban nhân dân xã K2 quyết định trên và cho đến nay, địa phương cũng không nhận được văn
bản nào của Ủy ban nhân dân huyện về việc thu hồi giấy chứng nhận liên quan đến thửa đất trên. Khi ông M đứng ra thế chấp thửa đất 287 cho H3 vay vốn của Ngân hàng, có hợp đồng thế chấp được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Vũ Xuân T8 ký, nhưng ông T8 đã chết, Ủy ban nhân dân xã cũng không lưu giữ hợp đồng thế chấp. Qua kết quả giám định tài liệu, chữ ký trong hợp đồng của người thế chấp thể hiện không phải chữ ký của bà T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Khi thực hiện chính sách khoán 10 về đất nông nghiệp từ ngày 01/10/1988, địa phương xã P có trừ đất nông nghiệp ngoài đồng vào đất vườn đối với những hộ sử dụng đất vườn nhiều. Theo đó hộ gia đình cụ R1 có bị trừ đất 03 vào đất vườn thừa của ba khẩu gồm cụ R1, bà M1 (tức S) và ông M, mỗi người bị trừ 03 thước Bắc bộ bằng 72m², theo tỷ lệ 1:1 (tức 01m² ruộng bằng 01m² vườn). Đến năm 1993, khi chia đất 03 cho các hộ, theo tiêu chuẩn ở thôn N, mỗi khẩu được chia 01 sào 06 thước bằng 504m². Hộ gia đình ông M có được chia ruộng cho ba khẩu gồm ông M, bà T và chị B1 (con) theo tiêu chuẩn ruộng nêu trên. Do trước đây ông M đã sử dụng đất vườn của cụ R1 nên địa phương chỉ chia cho ông M 01 sào 03 thước, còn ba thước nằm trong đất vườn của cụ R1. Vì vậy 03 xuất ruộng của ông M, bà T, chị B1 chỉ còn được chia là 1440m² đất nông nghiệp, sau đó đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận ngày 01/10/1998 là 1464m² (thừa ra 24) là do dôi dư trong quá trình chia ruộng đến bờ lô bờ thửa còn dôi ít nên cấp cả để hộ bà T sử dụng cho tiện. Sau này gia đình bà T có đổi đất cho một số hộ lập vùng chăn nuôi, diện tích có giảm hơn (chỉ còn 1392m²). Nguyên nhân thừa thiếu là do thỏa thuận đổi ruộng của gia đình với các hộ khác.
+ Ông Phạm Văn T1 và ông Nguyễn Tiến D là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C trình bày:
Ngày 18/8/2010, Ngân hàng V2- Khu Công nghiệp H cho Doanh nghiệp tư nhân H3 vay số tiền 800.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay để mua phương tiện vận tải thủy nội địa trọng tải 600/620 tấn trên phương tiện HD-0665 kiểu công suất máy chính 01 máy 6160A-126; 129CV, tài sản thế chấp chính là phương tiện vận tải thủy nội địa nêu trên (tài sản hình thành từ vốn vay) và quyền sử dụng thửa đất số 357, tờ bản đồ số 25, diện tích 181m² và nhà hai tầng đã được cấp giấy chứng nhận mang tên ông Trần Quang K, bà Phạm Thị M2, giá trị tài sản được đảm bảo bằng 2.021.500.000 đồng. Ngày 01/11/2010, Ngân hàng V2- Khu Công nghiệp H ký văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng với H3, theo đó rút tài sản thế chấp là phương tiện đường thủy nội địa và thay bằng tài sản đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng là quyền sử dụng đối với thửa đất số 287, tờ bản đồ số 4, diện tích đất 392m² đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Nguyễn Thế M, bà Đặng Thị T. Còn đối với tài sản đảm bảo quyền sử dụng thửa đất số 357 giữ nguyên. Theo đó tài sản đảm bảo của ông M, bà T được định giá 519.200.000 đồng; tài sản của ông K, bà M2 là 721.500.000 đồng. Sau đó, giữa Ngân hàng V2- Khu Công nghiệp H và H3 còn hai lần sửa đổi bổ sung hợp đồng tín
dụng về thay đổi tài sản thế chấp tại các hợp đồng số 02/VBSĐBS ngày 05/12/2011 và hợp đồng số 03/VBSĐBS ngày 29/10/2012, còn tài sản đảm bảo thế chấp của ông M, bà T cho hợp đồng tín dụng vẫn giữ nguyên. Đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông M, bà T thì giữa Ngân hàng V2- Khu Công nghiệp H, ông M, bà T và H3 có ký hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã P ngày 01/11/2010, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất- Phòng TNMT huyện Tứ Kỳ ngày 02/11/2010. Quá trình vay vốn H3 đã trả được một phần nợ gốc và lãi trong đó nợ gốc đã trả được 560.000.000 đồng và tiền lãi kể từ khi vay đến ngày 20/02/2014 thì vi phạm nghĩa vụ trả nợ, sau đó Ngân hàng V2 đã chuyển toàn bộ khoản nợ sang nợ quá hạn. Mặc dù ngân hàng đã nhiều lần làm việc, thông báo đôn đốc trả nợ nhưng H3 vẫn không trả nợ cho V2. Cho đến ngày 07/02/2022, H3 còn nợ V2 tổng số tiền 508.321.476 đồng, trong đó nợ gốc 240.000.000 đồng, lãi trong hạn 183.549.334 đồng; lãi phạt 84.772.142 đồng. Đến nay Ngân hàng cũng không nắm bắt được hiện H3 có còn hoạt động không. Việc ông M, bà T đều cho rằng bà T không ký vào hợp đồng thế chấp là việc của ông bà ấy, Ngân hàng không có nghĩa vụ đề nghị giám định. Vì việc ký kết hợp đồng thế chấp được làm, chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã P và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền thuộc trách nhiệm của các cơ quan có trách nhiệm chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm. Do H3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ và cho đến nay vẫn nợ Ngân hàng V2, Ngân hàng cũng chưa khởi kiện nên thửa đất số 287, tờ bản đồ số 4, diện tích đất 392m² đứng tên ông M, bà T vẫn thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay của H3, tài sản này chỉ được phân chia sau khi các bên liên quan hoàn thành các nghĩa vụ bảo đảm với Ngân hàng. Đề nghị Tòa án giải quyết hợp đồng thế chấp số LN1910086C/KCNHD ngày 01/11/2010 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Thế M, bà Đặng Thị T với bên nhận thế chấp là Ngân hàng V2 khu Công nghiệp Hải Dương theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng.
+ Đối với ông Trần Quang K- Chủ doanh nghiệp tư nhân H3 (viết tắt H3) đã được Tòa án nhiều lần triệu tập đến làm việc, tham gia tố tụng nhưng ông Khoảng không đến Tòa án để làm việc, không gửi văn bản thể hiện ý kiến, quan điểm.
Theo phúc đáp của Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư tỉnh H về tình trạng hoạt động của danh nghiệp hiện tại: H3 bị cảnh báo thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (khóa doanh nghiệp). Công văn của Chi cục thuế khu vực N2 thì H3 đã ngừng hoạt động và đã hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực MST, ngày tháng năm đóng mã số thuế 01/12/2010. Theo tra cứu của Tòa án trên Website của Cục T11 xác định H3 đã ngừng hoạt động và đóng mã số thuế.
- Người làm chứng ông Phạm Đăng H trình bày:
Ông là chồng bà Nguyễn Thị S1 (bà S1 là con của cụ Nguyễn Thế R và cụ Nguyễn Thị R1). Vợ chồng ông sinh được 03 người còn gồm: Phạm Đăng H1, Phạm Thị H2 và Phạm Thị L4. Thửa đất mà ông M, T đang tranh chấp có nguồn gốc là của bố mẹ vợ ông. Ông cũng
không biết khi còn sống, bố mẹ vợ ông có cho vợ chồng ông M, bà T hay không và không biết các cụ có di chúc gì liên quan đến thửa đất hay không. Bà Nguyễn Thị S1 chết ngày 10/4/1994 dương lịch, trước khi chết cũng không để lại di chúc gì liên quan đến thửa đất của bố mẹ. Nay, Tòa án giải quyết vụ án, do bà S1 chết trước bố mẹ nên các con của bà S1 người thừa kế thế vị. Tuy nhiên sau khi nhận thông báo thụ lý, ông đã thông báo trao đổi với các con ông, do các con ông đều đi làm ăn xa và đều thống nhất xác định dù sau này Tòa án giải quyết như thế nào thì các con ông đều không có yêu cầu, đề nghị gì về quyền lợi của mình liên quan đến thửa đất trên, đồng thời từ chối tham gia tố tụng.
- Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc Đ trình bày:
Gia đình ông có thửa đất giáp ranh về phía bắc nhà ông M. Bức tường xây gạch ba banh là tường chung của hai gia đình cùng bỏ tiền xây dựng, mỗi bên góp một nửa tiền, ranh giới xác định là tim của tường bao. Đối với tường bao trên là do ông M đi làm gửi tiền về cho anh trai là ông Nguyễn Thế T3 xây hộ. Từ trước đến nay mốc giới đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp gì.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị T4 trình bày:
Gia đình bà có thửa đất giáp ranh với thửa đất của gia đình cụ R trước đây. Bức tường xây gạch ba banh là tường do bà M1 (tức S) bỏ tiền xây dựng và xây hoàn toàn trên đất cụ R. Từ trước đến nay mốc giới đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp gì.
+ Tại kết luận giám định số 46/KL-KTHS (TL) ngày 21/3/2023 của Phòng K3 Công an T12 kết luận:
Chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Thị T tại mục “Bên thế chấp” trên tài liệu cần giám định (hợp đồng thế chấp) so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Đặng Thị T trên các tài liệu mẫu so sánh là không phải do cùng một người ký, viết ra.
Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ- ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào Điều 26, 28, 35, 39, khoản 1 Điều 227, 228, khoản 2, 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 55, 59, 33, 37, 61, 62 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 3 Điều 28 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 115 Luật nhà ở năm 2005; điểm a khoản 1 Điều 130 Luật đất đai năm 2003; các Điều 410, 122, 127, 128, 137, 138 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Đặng Thị T và ông Nguyễn Thế M
-Tuyên bố hợp đồng thế chấp số LN1910086/KCN-HD ngày 01/11/2010 giữa ông Nguyễn Thế M, bà Đặng Thị T với Ngân hàng V2- Khu Công nghiệp H vô hiệu. Buộc Ngân hàng V2 phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri Q 953823 do Ủy ban nhân dâ huyện T cấp ngày 10/7/2000 đối với thửa đất số 287, tờ bản đồ số 04 xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương cho ông Nguyễn Thế M và bà Đặng Thị T. Giành quyền khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại (nếu có) cho Ngân hàng
V2 trong vụ án khác.
- Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Nguyễn Thế M có 72m² đất bị trừ đất 03 ngoài đồng trong tổng diện tích 385,1m² đất, tại thửa đất số 287, tờ bản đồ số 04, địa chỉ tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương
- Xác nhận khối tài sản chung của bà Đặng Thị T, ông Nguyễn Thế M để phân chia gồm: diện tích 313,1m² đất tại thửa đất số 287, tờ bản đồ số 04, có địa chỉ tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương, trong đó có 300m² đất ở; 13,1m² đất trồng cây lâu năm, trị giá 601.048.000 đồng; Các tài sản trên đất gồm; 01 nhà mái bằng 01 tầng; 01 bể nước; 01 giếng nước; ½ giá trị tường bao giáp ông Đ có giá trị = 72.489.870 đồng.
Tổng giá trị đất và tài sản trên đất = 673.537.870 đồng.
- Xác nhận tài sản của bà Nguyễn Thị M1 xây dựng, kiến thiết trên thửa đất số 287, tờ bản đồ số 04 gồm: sân từ giáp ngõ đi vào 1.006.839 đồng; sân lát gạch đỏ 2.859.735 đồng; bếp 10.690.115 đồng; nhà vệ sinh tầng một 9.612.789 đồng và bể nước trên nóc nhà về sinh 1.211.988 đồng; chuồng gà 2.439.334 đồng; mái pro 495.081 đồng; sân bê tông cạnh giếng 1.077.153 đồng tường bao phía nhà bà T4: 4.212.296 đồng; 16 cây cau, 03 cây mít, 02 cây chuối có buồng, 25 cây chuối to, 30 cây chuối nhỏ, 01 cây bưởi, 01 cây na, 01 khóm mẫu đơn, tổng trị giá 12.775.000 đồng. Tổng cộng 46.380.000 đồng (làm tròn).
- Trích một phần diện tích đất ở làm lối đi chung vào phần đất của bà T, ông M là 23,1m² đất (trong đó có 13,1m2 đất trồng cây lâu năm, 10m2 đất ở, sân bê tông 17,6m² +5,1m² sân lát gạch đỏ), kích thước chiều rộng hai cạnh 2,50m, chiều dài hai cạnh là 1,88m+7,21m và 2,03m+7,36m.
- Xác định tổng giá trị tài sản chung còn lại là 652.489.870 đồng. Bà T được hưởng 40% giá trị tài sản = 260.955.948 đồng. Ông M được hưởng 60% giá trị tài sản = 391.493.922 đồng.
3. Chia hiện vật:
- Chia cho ông Nguyễn Thế M quyền sử dụng diện tích 171m² đất, trong đó có 99 m2 đất ở ( nằm trong khối tài sản chung của ông M và bà T) và 72m2 đất
trồng cây lâu năm (là tài sản riêng của ông M), tại thửa số 287, tờ bản đồ số 4, kích thước các cạnh như sau: Phía Bắc (giáp nhà ông Đ) 15,40m; phía Đông (giáp nhà bà T4 (mẹ anh T9)) 12,97m; phía Nam (giáp đất giao cho bà T) 12,69m, phía Tây (giáp ngõ đi) 2,03m+7,36m+2,50m+3,56m, nhà ở mái bằng 48,4m², ½ giá trị tường bao giáp nhà ông Đ. Tổng giá trị tài sản ông M được hưởng là 268.149.368 đồng. Thửa đất được giới hạn bởi các điểm B5,A8,A9,B6,B2,B3,B4 đến B5.
- Chia cho bà Đặng Thị T quyền sử dụng diện tích 191m² đất ở tại thửa đất số 287, tờ bản đồ số 4 và các tài sản, công trình trên đất (thuộc tài sản chung vợ chồng) gồm: 01 giếng, 01 bể nước, kích thước các cạnh như sau: Phía bắc (giáp đất giao cho ông M và ngõ đi, có các cạnh 12,69 +2,50m; phía Nam (giáp đất ao bà T10, ông S1) 7,0+3,70+3,92+ 3,38m; phía Đông (giáp nhà anh T9) 9,33m; phía Tây (giáp đất bà S) 5,72+0,90+2,84+0,24+5,41m. Thửa đất được giới hạn bởi các điểm B1,B2,B6,A10,A11,A12,A1,A2,A3,A4,A5,A6 đến B1. Tài sản bà T được giao sử dụng có tổng giá trị = 384.340.772 đồng.
Bà T phải trả giá trị chênh lệch tài sản cho ông M là 123.345.000 đồng.
Bà Đặng Thị T được quyền sử dụng các tài sản trên đất gồm: phần sân lát gạch đỏ 51,3m², 01 bếp, 01 nhà vệ sinh 1 tầng, bể nước trên nóc nhà vệ sinh, chuồng gà, mái lợp pro, sân bê tông cạnh giếng; đoạn tường bao 9,33m (giáp nhà bà T4 - mẹ anh T9); 10 cây cau ta: 01 cây mít, 01 cây bưởi, 01 cây na, 01 khóm mẫu đơn, 01 cây chuối có buồng, 19 cây chuối to, 16 cây chuối nhỏ của bà Nguyễn Thị M1 (tức S). Tổng giá trị tài sản là 37.775.000 đồng.
Bà T phải trả cho bà M1 (tức S) giá trị tài sản trên đất là 37.775.000 đồng và ½ giá trị các tài sản nằm trên lối đi chung gồm 17,6m² sân bê tông; 5,1m² sân lát gạch đỏ; thanh toán trả bà M1 tiền làm ngõ bê tông = 2.967.000 đồng. Tổng số tiền bà T phải trả bà M1 là 40.742.000 đồng.
Ông Nguyễn Thế M được quyền sử dụng các tài sản trên đất gồm: phần sân lát gạch đỏ: 22,4m², phần sân bê tông 23,5m², đoạn tường bao 12,97m (giáp nhà bà T4); 06 cây cau ta, 01 cây mít, 01 cây chuối có buồng, 06 cây chuối to, 14 cây chuối nhỏ của bà Nguyễn Thị M1 (tức S). Chấp nhận sự tự nguyện của bà M1 không yêu cầu ông M phải thanh toán giá trị tài sản của bà M1 trên đất và không phải thanh toán trả bà M1 tiền làm đường ngõ bê tông.
Buộc bà Nguyễn Thị M1 phải đánh chuyển 01 cây mít tại vị trí lối đi vào đất ông M, bà T. Buộc bà Nguyễn Thị M1 phải tháo dỡ cổng chính, 02 cánh cổng sắt để không làm ảnh hướng đến lối đi chung.
Bà T, ông M có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
(Toàn bộ ranh giới, mốc giới đối với diện tích đất, tài sản trên đất đã phân chia có sơ đồ kèm theo).
4. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu của Ngân hàng V2 về việc xem xét hợp đồng thế chấp số LN1910086C/KCN-HD ngày 01/11/2010 giữa bên thế
chấp là ông Nguyễn Thế M, bà Đặng Thị T với bên nhận thế chấp là Ngân hàng V2- Khu Công nghiệp H.
5. Về chi phí xem xét thẩm định, định giá, giám định:
Buộc ông Nguyễn Thế M phải thanh toán trả bà Đặng Thị T 2.250.000 đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định, định giá tài sản. Buộc Ngân hàng V2 - Khu công nghiệp H phải hoàn trả bà Đặng Thị T số tiền chi phí giám định là 3.360.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
6. Về án phí sơ thẩm:
Bà Đặng Thị T phải chịu 75.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn và 13.047.000 đồng án phí chia tài sản, tổng = 13.122.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp 6.300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2020/0004323 ngày 19/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, bà Đặng Thị T còn phải nộp 6.822.000 đồng án phí chia tài sản.
Ông Nguyễn Thế M phải chịu 75.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn và 19.574.000 đồng án phí chia tài sản.
7. Về án phí phúc thẩm:
Ông M, bà M1, Ngân hàng V2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông M, bà M1 và Ngân hàng V2 mỗi người 300.000đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên thu số AA/2022/0000136 ngày 10/10/2023; AA/2022/0000117 ngày 05/10/2023; AA/2022/0000140 ngày 11/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.
Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-PT ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa một phần bản án
