|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 25-4-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng
Ông Nguyễn Tấn Lộc
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Minh Chul – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D sinh ngày 10/5/1997 tại huyện U, tỉnh Cà Mau. đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Lâm Thị Mộng T; vợ Lý Bé H và một người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; tạm giữ ngày 14 tháng 11 năm 2023; tạm giam ngày 20 tháng 11 năm 2023 đến nay (có mặt).
- Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Cẩm P, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Tuyết E, sinh năm 1967 (có mặt)
- Chị Lương Thị Y, sinh năm 1994 (vắng mặt)
- Chị Võ Ánh T1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mộng N, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Chị Hồ Bích H1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp Giao Khẩu, xã Tân Phú, Thới Bình, Cà Mau
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Giao Khẩu, xã Tân Phú, Thới Bình, Cà Mau
Địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã Trí Phải, Thới Bình, Cà Mau
Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã Tân Lộc Bắc, Thới Bình, Cà Mau
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, T, Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Dình sinh sống bằng nghề mò hến, có thu nhập ổn định và là nguồn sống chính của gia đình, xuất phát từ động cơ vụ lợi nên trong khoảng thời gian từ ngày 04/10/2023 đến ngày 13/11/2023, D đã liên tục thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản trên địa bàn huyện T, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào 19 giờ 30 phút ngày 04/10/2023, anh Nguyễn Minh T2 điều khiển xe mô tô biển số 69F8-4887 chở vợ là chị Võ Ánh T1 cùng con nhỏ đi từ chợ Huyện Sử về hướng cầu T Phải trên Quốc lộ F thì bị Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô gắn biển số 69H1-228.97 chạy ngược chiều, phát hiện trên cổ chị T1 có đeo sợi dây chuyền vàng nên D quay đầu xe bám theo, khi anh T2 điều khiển xe vào tuyến lộ bê tông thuộc ấp B, xã T thì D điều khiển xe áp sát giật lấy sợi dây chuyền vàng của chị T1 đang đeo, rồi điều khiển xe về nhà ở ấp T, xã T. Dình khai đã mang sợi dây chuyền ra một tiệm vàng ở thành phố C (không nhớ địa chỉ cụ thể) bán vào sáng ngày 05/10/2023, được số tiền 7.260.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 610 (61%), trọng lượng 2,5 chỉ, mua vào năm 2010, bị chiếm đoạt vào ngày 04/10/2023, có giá trị là 2,5 chỉ x 3.240.000 đồng = 8.100.000 đồng.
Trong giai đoạn điều tra, D đã khắc phục bồi thường cho chị T1 số tiền 9.000.000 đồng, chị T1 không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự; về hình sự chị T1 yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.
Vụ thứ hai: Vào lúc 17 giờ 50 phút, ngày 27/10/2023, anh Nguyễn Văn N1 điều khiển xe mô tô biển số 69D1-088.04 chở vợ là chị Lương Thị Y cùng con nhỏ đi trên tuyến Quốc lộ F, theo hướng xã T đi xã T. Khi đi đến đoạn lộ thuộc ấp G, xã T thì bị Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô gắn biển số 69H1-228.97 chạy ngược chiều, phát hiện trên cổ chị Y có đeo sợi dây chuyền vàng nên quay xe đuổi theo và áp sát giật lấy sợi dây chuyền của chị Y, sau đó nhanh chóng tẩu thoát. Dình khai đã mang ra một tiệm vàng ở thành phố C (không nhớ địa chỉ) bán vào sáng ngày 28/10/2023, được số tiền 7.590.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 610 (61%), trọng lượng 03 chỉ, mua vào năm 2021, bị chiếm đoạt vào ngày 27/10/2023, có giá trị là 03 chỉ x 3.255.000 đồng = 9.765.000 đồng.
Bị cáo D đã khắc phục bồi thường cho chị Y số tiền 11.100.000 đồng, chị Y không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự; về hình sự chị Y có đơn xin bãi nại cho D.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 18 giờ, ngày 10/11/2023, bà Nguyễn Thị Tuyết E điều khiển xe mô tô biển số 69D1-143.95 đi trên tuyến quốc lộ F theo hướng từ xã T về xã T. Khi đến đoạn thuộc ấp B, xã T thì bị Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô gắn biển số 69H1-228.97, phát hiện bà Tuyết E có đeo sợi dây chuyền vàng nên áp sát, giật lấy sợi dây chuyền vàng đang đeo trên cổ của bà Tuyết E, sợi dây chuyền bị đứt nhưng còn vướng lại trên cổ, kết quả làm bà T1 Em ngã xe, bị trầy xước nhẹ. Dình không lấy được tài sản nên nhanh chóng điều khiển xe về nhà.
Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 610 (61%), dạng khoen lật, có chữ “A HOA 610”, trọng lượng 3,4 chỉ, mua vào năm 2020, bị chiếm đoạt vào ngày 10/11/2023, có giá trị là 3,4 chỉ x 3.435.000 đồng = 11.679.000 đồng.
Bà Tuyết E không yêu cầu về trách nhiệm dân sự; không yêu cầu giám định thương tích; về hình sự bà Tuyết E xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 12/11/2023, chị Nguyễn Thị Cẩm P điều khiển xe mô tô biển số 69U1-2065 chở theo con nhỏ đi trên tuyến Quốc lộ F theo hướng từ xã T đi xã T thì bị Nguyễn Văn D điều khiển xe biển số 69H1-228.97, phát hiện trên cổ chị P có đeo sợi dây chuyền vàng, D áp sát, giật sợi dây chuyền của chị P, sợi dây chuyền bị đứt nhưng kẹt lại trên người chị P nên D không lấy được sợi dây chuyền, chị P bị ngã xe, bị trầy xước nhẹ. Dình nhanh chóng điều khiển xe chạy về nhà.
Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 610 (61%), dạng dây 3 bính, có chữ “TTR 610”, trọng lượng 4,6 chỉ, mua vào năm 2019, bị chiếm đoạt vào ngày 12/11/2023, có giá trị là 4,6 chỉ x 3.435.000 đồng = 15.801.000 đồng.
Trong giai đoạn điều tra, chị P không yêu cầu về trách nhiệm dân sự; không yêu cầu giám định thương tích; về hình sự chị P yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.
Vụ thứ năm: Vào lúc 18 giờ 20 phút, ngày 13/11/2023, chị Hồ Bích H1 điều khiển xe mô tô biển số 69D1-614.67 đi từ chợ C số 4 về nhà tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, khi chị H1 đi đến đoạn lộ gần chùa P1 thì Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô gắn biển số 69H1-228.97 chạy ngược chiều, phát hiện chị H1 trên cổ có đeo sợ dây chuyền bạc nên áp sát xe, dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền đeo trên cổ của chị H1, sau đó điều khiển xe nhanh chóng tẩu thoát, D chạy một đoạn thì dừng xe, bỏ sợi dây chuyền bằng bạc, có gắn mặt dây chuyền dạng hình “Phật” vừa cướp giật được vào cóp xe rồi chạy về hướng T.
Ngày 15/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp với Hội Mỹ nghệ Kim hoàn tỉnh C kiểm tra tài sản thu giữ được trong cóp xe của D, xác định: 01 (một) dây chuyền kim loại màu bạc, một đầu có móc khung kim loại màu bạc, trên khung có gắn viên đá màu trắng (dạng hình Phật), là dây chuyền bạc, loại bạc thành phẩm, phần bạc có trọng lượng 1,12 chỉ, viên đá không có giá trị.
Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 kết luận: 01 sợi dây chuyền bạc, có mặt hình “Phật” bằng đá màu trắng, phần bạc có trọng lượng 1,12 chỉ, phần đá có trọng lượng 0,52 chỉ, mua vào tháng 6 năm 2021, bị chiếm đoạt vào ngày 13/11/2023, có giá trị là 1,12 chỉ x 450.000 đồng = 504.000 đồng.
Trong giai đoạn điều tra, chị H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự; không yêu cầu giám định thương tích; về hình sự chị H1 yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.
Vụ thứ sáu: Hơn 18 giờ 30 phút, sau khi thực hiện vụ thứ 5 xong, Nguyễn Văn D điều khiển xe gắn biển số 69H1-228.97 chạy trên tuyến Quốc lộ F theo hướng từ xã T về xã T, phát hiện chị Nguyễn Thị Mộng N đang điều khiển xe mô tô chở chị Nguyễn Kiều O đi phía trước cùng chiều, D điều khiển xe bám sát theo sau, đến đoạn lộ thuộc ấp I, xã T thì áp sát xe giật lấy sợi dây chuyền vàng đeo trên cổ chị N, rồi nhanh chóng điều khiển xe chạy đi, sau đó D dừng xe bỏ sợi dây chuyền vàng vừa cướp giật được của chị N vào cóp xe rồi lên xe chạy đi về hướng xã T.
Lúc này có anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1989, thường trú ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau điều khiển xe mô tô đi tới, nghe được chị N tri hô “cướp, cướp” nên điều khiển xe đuổi theo D.
Còn chị N thì đi đến Công an xã T trình báo vụ việc ngay sau đó. Công an xã T cử lực lượng truy đuổi theo hướng tẩu thoát của D và liên hệ Công an xã T chặn bắt. Đến 19 giờ cùng ngày, thì lực lượng Công an xã T, Công an xã T và anh M bắt giữ D cùng tang vật.
Ngày 15/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp với Hội Mỹ nghệ Kim hoan tỉnh C kiểm tra tài sản thu giữ được trong cóp xe của D, xác định: 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, dạng khoen lật, chỗ dấu móc có chữ “PPJ” và “TAI” là dây chuyền bằng vàng, loại vàng 610 (61%), trọng lượng 2,56 chỉ.
Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 kết luận: 01 (một) dây chuyền vàng, dạng khoen lật, chỗ dấu móc có chữ “PPJ” và “TAI” loại vàng 610 (61%), trọng lượng 2,56 chỉ, mua vào năm 2013, bị chiếm đoạt vào ngày 13/11/2023, có giá trị là 2,56 chỉ x 3.400.000 đồng = 8.704.000 đồng.
Trong giai đoạn điều tra, chị N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự; về hình sự chị N yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn D bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là Lâm Phú X được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong kháng chiến chống Mỹ; được bị hại là chị Y, bà Tuyết E xin giảm nhẹ hình phạt. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VARIO, màu đỏ - đen, số khung MH1KF4127MK238916, số máy KF41E2242914, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra chứng minh được, chiếc xe là tài sản riêng của chị Lý Bé H, mua trước khi kết hôn với D, việc D sử dụng làm phương tiện đi phạm tội chị H hoàn toàn không biết nên trả lại cho chị H.
Trả lại chị H1 01 (một) 01 sợi dây chuyền bạc, có mặt hình “Phật” bằng đá màu trắng, phần bạc có trọng lượng 1,12 chỉ, phần đá có trọng lượng 0,52 chỉ.
Trả lại chị N 01 (một) dây chuyền vàng, dạng khoen lật, chỗ dấu móc có chữ “PPJ” và “TAI” loại vàng 610 (61%), trọng lượng 2,56 chỉ.
Đối với biển số 69H1-228.97 là giả, D đặt mua gắn vào xe mô tô hiệu Vario để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Công văn số 58/ĐTTH ngày 04/3/2024 chuyển cho Đ - Trật tự Công an huyện T, kèm theo biển số để xử lý theo thẩm quyền.
Tiền Việt Nam đồng: 81.000 đồng, đây là số tiền của D có được từ việc bán tài sản cướp giật mà có, quá trình chi xài còn lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển dự nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình chờ xử lý, theo biên lai số 0003726, ngày 28/02/2024.
Đối với những vật chứng còn lại gồm:
01 (một) điện thoại di động, hiệu OPPO, loại RENO 6Z 5G, màu xanh, số seri BEPBQ4J2BEMB8LLV, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim số 0865.254.781 và 0836.626.202. Điện thoại đã qua sử dụng, gắn kèm một ốp lưng có dòng chữ và số “Văn Dình 1997”. 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...], tên Nguyễn Văn D (bản gốc). 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu trắng, phần mũi và lót đệm màu đen, nón cũ đã qua sử dụng. 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu đỏ, phần mũi và lớp lót màu đen, nón cũ đã qua sử dụng. 01 (một) áo sơ mi dài tay, nhãn có ghi dòng chữ “TH-77 NEWFASHION”, phía trước ngực áo có dòng chữ “CON DSDSORED2", áo màu đen, đã qua sử dụng. 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại áo bảo hộ lao động, áo màu xanh da trời, có sọc dạ quang màu xanh, áo không có nhãn, trên áo có ghi dòng chữ “CBC CIVIL& BUILDING CONSTRUCTION” và “SAFETY FIRST”, đã qua sử dụng. 01 (một) áo khoát màu đen, bên trong có lớp lót dạng lông, đã qua sử dụng. 01 (một) áo sơ mi dài tay, có nhãn ghi dòng chữ “Krmen's”, màu nâu-tía, phía trước ngực có 02 túi ở 02 bên ngực, đã qua sử dụng. 01 (một) quần dài màu đen, vải thun, không nhãn hiệu, có 04 túi quần, vùng đầu gối phía trước của ống quần bên trái có dính bùn đất, đã qua sử dụng. 06 (sáu) khẩu trang màu đen, gồm 02 khẩu trang đã qua sử dụng và 04 khẩu trang chưa qua sử dụng. Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện T đang lưu giữ.
Tại bản cáo trạng số 12/CT - KVS ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Cướp giật tài” sản quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã được trình bày trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”, phạt bị cáo D từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời gian tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt. Hình phạt bổ sung không.
Trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VARIO, màu đỏ - đen, số khung MH1KF4127MK238916, số máy KF41E2242914, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra chứng minh được, chiếc xe là tài sản riêng của chị Lý Bé H, mua trước khi kết hôn với D, việc D sử dụng làm phương tiện đi phạm tội chị H hoàn toàn không biết nên trả lại cho chị H.
Trả lại chị H1 01 (một) 01 sợi dây chuyền bạc, có mặt hình “Phật” bằng đá màu trắng, phần bạc có trọng lượng 1,12 chỉ, phần đá có trọng lượng 0,52 chỉ.
Trả lại chị N 01 (một) dây chuyền vàng, dạng khoen lật, chỗ dấu móc có chữ “PPJ” và “TAI” loại vàng 610 (61%), trọng lượng 2,56 chỉ.
Đối với biển số 69H1-228.97 là giả, D đặt mua gắn vào xe mô tô hiệu Vario để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Công văn số 58/ĐTTH ngày 04/3/2024 chuyển cho Đ - Trật tự Công an huyện T, kèm theo biển số để xử lý theo thẩm quyền. Việc xử lý vật chứng nói trên của Cơ quan điều tra là phù hợp.
Tiền Việt Nam đồng: 81.000 đồng, đây là số tiền của D có được từ việc bán tài sản cướp giật mà có, quá trình chi xài còn lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển dự nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình, theo biên lai số 0003726, ngày 28/02/2024. Số tiền này được sung vào công quỹ Nhà Nước.
Các vật chứng trực tiếp liên quan đến tội phạm nên tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu trắng, phần mũi và lót đệm màu đen, nón cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu đỏ, phần mũi và lớp lót màu đen, nón cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, nhãn có ghi dòng chữ “TH-77 NEWFASHION”, phía trước ngực áo có dòng chữ “CON DSDSORED2”, áo màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, có nhãn ghi dòng chữ “Krmen's”, màu nâu-tía, phía trước ngực có 02 túi ở 02 bên ngực, đã qua sử dụng.
- 01 (một) quần dài màu đen, vải thun, không nhãn hiệu, có 04 túi quần, vùng đầu gối phía trước của ống quần bên trái có dính bùn đất, đã qua sử dụng.
- 02 (hai) khẩu trang màu đen đã qua sử dụng
Các vật chứng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo gồm:
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại áo bảo hộ lao động, áo màu xanh da trời, có sọc dạ quang màu xanh, áo không có nhãn, trên áo có ghi dòng chữ “CBC CIVIL& BUILDING CONSTRUCTION” và “SAFETY FIRST”, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo khoát màu đen, bên trong có lớp lót dạng lông, đã qua sử dụng.
- 04 khẩu trang màu đen chưa qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động, hiệu OPPO, loại RENO 6Z 5G, màu xanh, số seri BEPBQ4J2BEMB8LLV, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim số 0865.254.781 và 0836.626.202. Điện thoại đã qua sử dụng, gắn kèm một ốp lưng có dòng chữ và số “Văn Dình 1997”. 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...], tên Nguyễn Văn D (bản gốc), các vật chứng này đều không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
Các vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 04/10/2023 đến ngày 13/11/2023 bị cáo Nguyễn Văn D, sử dụng xe mô tô hiệu Vairo, gắn biển số 69H1 – 228.97 thực hiện 06 vụ cướp giật tài sản của các bị hại là Võ Ánh T1, Lương Thị Y, Nguyễn Thị Tuyết E, Nguyễn Thị Cẩm P, Hồ Bích H1, Nguyễn Thị Mộng N khi họ đang đi xe mô tô lưu thông trên đường thuộc địa bàn huyện T, tổng giá trị tài sản bị cáo D chiếm đoạt là 54.553.000 đồng, bằng thủ đoạn nguy hiểm. Với hành vi và thủ đoạn nói trên thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì động cơ vụ lợi mà bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội của địa phương, gây nên sự bức xúc, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo sử dụng xe mô tô cướp giật tài sản của những các bị hại đang di chuyển trên các xe mô tô đây là thủ đoạn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại hoặc của người khác. Mặt khác, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách manh động, liều lĩnh. Vì vậy, việc xử lý nghiêm đối với bị cáo là rất cần thiết, nhằm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau đây đối với bị cáo: Bồi thường toàn bộ thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được chị Y và bà Tuyết E xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông ngoại là Lâm Phú X được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản của các bị hại 06 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình là có cơ sở. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa và đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và đã được bị cáo bồi thường thiệt hại nên không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VARIO, màu đỏ - đen, số khung MH1KF4127MK238916, số máy KF41E2242914, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra chứng minh được, chiếc xe là tài sản riêng của chị Lý Bé H, mua trước khi kết hôn với D, việc D sử dụng làm phương tiện đi phạm tội chị H hoàn toàn không biết nên trả lại cho chị H. Trả lại chị H1 01 (một) 01 sợi dây chuyền bạc, có mặt hình “Phật” bằng đá màu trắng, phần bạc có trọng lượng 1,12 chỉ, phần đá có trọng lượng 0,52 chỉ. Trả lại chị N 01 (một) dây chuyền vàng, dạng khoen lật, chỗ dấu móc có chữ “PPJ” và “TAI” loại vàng 610 (61%), trọng lượng 2,56 chỉ. Đối với biển số 69H1-228.97 là giả, D đặt mua gắn vào xe mô tô hiệu Vario để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Công văn số 58/ĐTTH ngày 04/3/2024 chuyển cho Đ - Trật tự Công an huyện T, kèm theo biển số để xử lý theo thẩm quyền. Việc xử lý vật chứng nói trên của Cơ quan điều tra là phù hợp.
Tiền Việt Nam đồng: 81.000 đồng, đây là số tiền của D có được từ việc bán tài sản cướp giật mà có, quá trình chi xài còn lại. Số tiền này được sung vào công quỹ Nhà Nước.
Các vật chứng trực tiếp liên quan đến tội phạm nên tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu trắng, phần mũi và lót đệm màu đen, nón cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu đỏ, phần mũi và lớp lót màu đen, nón cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, nhãn có ghi dòng chữ “TH-77 NEWFASHION”, phía trước ngực áo có dòng chữ “CON DSDSORED2”, áo màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, có nhãn ghi dòng chữ “Krmen's”, màu nâu-tía, phía trước ngực có 02 túi ở 02 bên ngực, đã qua sử dụng.
- 01 (một) quần dài màu đen, vải thun, không nhãn hiệu, có 04 túi quần, vùng đầu gối phía trước của ống quần bên trái có dính bùn đất, đã qua sử dụng.
- 02 (hai) khẩu trang màu đen đã qua sử dụng
Các vật chứng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo gồm:
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại áo bảo hộ lao động, áo màu xanh da trời, có sọc dạ quang màu xanh, áo không có nhãn, trên áo có ghi dòng chữ “CBC CIVIL& BUILDING CONSTRUCTION” và “SAFETY FIRST”, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo khoát màu đen, bên trong có lớp lót dạng lông, đã qua sử dụng.
- 04 khẩu trang màu đen chưa qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động, hiệu OPPO, loại RENO 6Z 5G, màu xanh, số seri BEPBQ4J2BEMB8LLV, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim số 0865.254.781 và 0836.626.202. Điện thoại đã qua sử dụng, gắn kèm một ốp lưng có dòng chữ và số “Văn Dình 1997”. 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...], tên Nguyễn Văn D (bản gốc).
Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ.
[7] Đối với hành vi của bị cáo D mua biển số xe 69H1-228.97 giả, gắn vào xe honđa hiệu VARIO sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển 01 phần hồ sơ có liên quan cùng biển số 69H1-228.97 đến Đ - Trật tự Công an huyện T xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Trước khi bị bắt, bị cáo D sinh sống bằng nghề mò hến, có thu nhập ổn định và là nguồn sống chính của gia đình. Do đó, hành vi phạm tội của D không có tính chất chuyên nghiệp.
Đối với tiệm vàng ở Cà Mau nơi bị cáo D đem vàng sau khi cướp giật được đến bán, bị cáo không xác định được địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ xác minh, xử lý là phù hợp.
[8] Bị cáo D có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo D phải nộp án phí theo quy định.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”, phạt bị cáo Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà Nước 81.000 đồng (tám mươi mốt nghìn đồng), theo biên lai số 0003726, ngày 28/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình.
Các vật chứng trực tiếp liên quan đến tội phạm nên tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu trắng, phần mũi và lót đệm màu đen, nón cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu đỏ, phần mũi và lớp lót màu đen, nón cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, nhãn có ghi dòng chữ “TH-77 NEWFASHION”, phía trước ngực áo có dòng chữ “CON DSDSORED2”, áo màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, có nhãn ghi dòng chữ “Krmen's”, màu nâu-tía, phía trước ngực có 02 túi ở 02 bên ngực, đã qua sử dụng.
- 01 (một) quần dài màu đen, vải thun, không nhãn hiệu, có 04 túi quần, vùng đầu gối phía trước của ống quần bên trái có dính bùn đất, đã qua sử dụng.
- 02 (hai) khẩu trang màu đen đã qua sử dụng
Các vật chứng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo gồm:
- 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại áo bảo hộ lao động, áo màu xanh da trời, có sọc dạ quang màu xanh, áo không có nhãn, trên áo có ghi dòng chữ “CBC CIVIL& BUILDING CONSTRUCTION” và “SAFETY FIRST”, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo khoát màu đen, bên trong có lớp lót dạng lông, đã qua sử dụng.
- 04 khẩu trang màu đen chưa qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động, hiệu OPPO, loại RENO 6Z 5G, màu xanh, số seri BEPBQ4J2BEMB8LLV, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim số 0865.254.781 và 0836.626.202. Điện thoại đã qua sử dụng, gắn kèm một ốp lưng có dòng chữ và số “Văn Dình 1997”. 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...], tên Nguyễn Văn D (bản gốc).
Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn D chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bà Tuyết E được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quốc Văn |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về cướp giật tài sản
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Dình phạm tội “Cướp giật tài sản”, phạt bị cáo Nguyễn Văn Dình 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023. 2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 3. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà Nước 81.000 đồng (tám mươi mốt nghìn đồng), theo biên lai số 0003726, ngày 28/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình. Các vật chứng trực tiếp liên quan đến tội phạm nên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu trắng, phần mũi và lót đệm màu đen, nón cũ đã qua sử dụng. 01 (một) nón (mũ) bảo hiểm màu đỏ, phần mũi và lớp lót màu đen, nón cũ đã qua sử dụng. 01 (một) áo sơ mi dài tay, nhãn có ghi dòng chữ “TH-77 NEWFASHION”, phía trước ngực áo có dòng chữ “CON DSDSORED2”, áo màu đen, đã qua sử dụng. 01 (một) áo sơ mi dài tay, có nhãn ghi dòng chữ “Krmen’s”, màu nâu-tía, phía trước ngực có 02 túi ở 02 bên ngực, đã qua sử dụng. 01 (một) quần dài màu đen, vải thun, không nhãn hiệu, có 04 túi quần, vùng đầu gối phía trước của ống quần bên trái có dính bùn đất, đã qua sử dụng. 02 (hai) khẩu trang màu đen đã qua sử dụng Các vật chứng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo gồm: 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại áo bảo hộ lao động, áo màu xanh da trời, có sọc dạ quang màu xanh, áo không có nhãn, trên áo có ghi dòng chữ “CBC CIVIL& BUILDING CONSTRUCTION” và “SAFETY FIRST”, đã qua sử dụng. 01 (một) áo khoát màu đen, bên trong có lớp lót dạng lông, đã qua sử dụng. 04 khẩu trang màu đen chưa qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động, hiệu OPPO, loại RENO 6Z 5G, màu xanh, số seri BEPBQ4J2BEMB8LLV, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim số 0865.254.781 và 0836.626.202. Điện thoại đã qua sử dụng, gắn kèm một ốp lưng có dòng chữ và số “Văn Dình 1997”. 01 (một) thẻ căn cước công dân số 096097002781, tên Nguyễn Văn Dình (bản gốc). Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ. 4. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn Dình chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bị cáo, bà Tuyết Em được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
