TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - TP.ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đời
Ông Đoàn Văn Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Lan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06 /2025/TLST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Hồ Việt H (tên gọi khác: không), sinh ngày 16 tháng 6 năm 1992 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ D, phường A (nay là phường A), quận S, thành phố Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H1, sinh năm 1965 còn sống và bà Nguyễn Thị Phi Y, sinh năm 1966, còn sống. Gia đình bị cáo có 03 người con. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 03/01/2024, bị Công an phường A, quận S, TP.Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt 1.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 14/8/2024; Nhân thân: Ngày 27/9/2024, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP . ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng kể từ ngày 09/9/2024.
Bị cáo hiện đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng, thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 52 ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà kể từ ngày 09/9/2024. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại: Bà Lê Thị Thùy D, Sinh năm 2005. Nơi ĐK HKTT: Xóm B, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: K A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Phạm Thị T, S năm 1965. Nơi cư trú: số A A, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Ông Phạm Hồng T1, Sinh năm 1987. Nơi thường trú: xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Số I N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 20 giờ ngày 07 tháng 9 năm 2024, Hồ Việt H đi bộ đến trước nhà số K A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN màu xanh, biển kiểm soát 37PA- 001.41 của chị Lê Thị Thùy D (sinh năm: 2005; HKTT: xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An; tạm trú: K A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng) đang dựng phía trước phòng trọ, không khóa cổ và không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát xung quanh không có ai, H đi đến lấy trộm và dắt bộ xe đến góc ngã tư đường N - N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, H nhìn thấy quán nước sinh tố của chị Phạm Thị T (sinh năm: 1965, trú tại: số A A, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng) còn đang bán nên dắt xe máy đến nói với chị T là xe của H, cần tiền gấp bán với giá 700.000 đồng nhưng chị T không mua, sau đó H vào ngồi phía trước quán. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Phạm Hồng T1 (sinh năm: 1987; HKTT: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; tạm trú: số I N, quận S, thành phố Đà Nẵng) đi bộ đến quán ngồi uống nước thì chị T nói với anh T1 về việc H bán xe. Do không có phương tiện đi lại nên anh T1 hỏi về nguồn gốc xe thì H nói là xe của H do cần tiền gấp nên bán với giá 700.000 đồng, ổ khóa xe bị lỏng nên chìa khóa rơi trên đường, giấy tờ xe để quên ở nhà, hẹn ngày mai đến quán nước của chị T đưa giấy tờ xe và chìa khóa sơ cua; đồng thời qua kiểm tra thấy xe cub đã cũ, ổ khóa lỏng nên anh T1 tin tưởng là xe của H và đồng ý mua. Qua trao đổi thì H đồng ý bán cho anh T1 với giá 600.000 đồng. Anh T1 chuyển khoản 600.000 đồng qua số tài khoản của chị T để lấy tiền mặt đưa cho H. Sau đó, anh T1 dắt bộ xe về để tại công trình đang làm việc gần quán nước. Số tiền bán xe, H tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 08 tháng 9 năm 2024, chị D phát hiện mất xe nên đến Công an phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng trình báo. Ngày 09 tháng 9 năm 2024,
Công an phường A triệu tập H đến trụ sở, qua làm việc H khai nhận hành vi trộm cắp xe máy của chị D như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận S, thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508 có giá trị 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) (bút lục số 11).
* Vật chứng tạm giữ (bút lục số 51):
- Anh Phạm Hồng T1 tự nguyện giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng ổ khóa xe bị lỏng). Qua xác minh, xe mua vào năm 2015, do ông Lê Doãn T2 (mất năm 2023) đứng tên chủ sở hữu, sau đó ông T2 cho cháu nội là chị Lê Thị Thùy D sử dụng đi lại, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Vào tháng 12/2023, chị D mang xe vào thành phố Đà Nẵng để sử dụng đi học, đến ngày 07/9/2024 thì bị mất trộm. Ngày 10/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thùy D.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Hồ Việt H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về TNHS:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Việt H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Anh Thái tự nguyện giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng ổ khóa xe bị lỏng). Qua xác minh, xe mua vào năm 2015, do ông Lê Doãn T2 (mất năm 2023) đứng tên chủ sở hữu, sau đó ông T2 cho cháu nội là chị Lê Thị Thùy D sử dụng đi lại, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Vào tháng 12 năm 2023, chị D mang xe vào thành phố Đà Nẵng để sử dụng đi học, đến ngày 07 tháng 9 năm 2024 thì bị mất trộm.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thùy D nên không đề cập đến.
* Về Biện pháp tư pháp: Tại phiên toà bị cáo đồng ý nộp số tiền 600.000 đồng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán xe cho anh Phạm Hồng T1, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng.
* Phần bồi thường dân sự: Chị Lê Thị Thùy D đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508. Chị Lê Thị Thùy D và Phạm Hồng T1 đều không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập đến.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo và ý kiến của những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng được triệu tập: Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại Lê Thị Thùy D và có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Hồng T1, đối với chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên xét những người này đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt; Xét những người này đã được cơ quan điều tra ghi lời khai và người bị hại đã nhận lại tài sản, việc vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án;
Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Việt H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 20 giờ ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trước nhà số K A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Hồ Việt H đã có hành vi có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN màu xanh, biển kiểm soát 37PA-001.41 trị giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) của chị Lê Thị Thùy D để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã lợi dụng lúc chị Lê Thị Thùy D sơ hở trong việc quản lý tài sản của mình nên bị cáo đã lén lút lấy của chị Lê Thị Thùy D 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN màu xanh, biển kiểm soát 37PA-001.41 trị giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Hành vi này thể hiện bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có 01 Tiền sự: Ngày 03 tháng 01 năm 2024, bị Công an phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt 1.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 14 tháng 8 năm 2024;
Nhân thân: Ngày 27 tháng 9 năm 2024, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2024.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Do đó HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS như trên. HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. HĐXX xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, nghề nghiệp không ổn định nên không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Anh Phạm Hồng T1 tự nguyện giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng ổ khóa xe bị lỏng). Qua xác minh, xe mua vào năm 2015, do ông Lê Doãn T2 (mất năm 2023) đứng tên chủ sở hữu, sau đó ông T2 cho cháu nội là chị Lê Thị Thùy D sử dụng đi lại, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Vào tháng 12 năm 2023, chị D mang xe vào thành phố Đà Nẵng để sử dụng đi học, đến ngày 07 tháng 9 năm 2024 thì bị mất trộm. Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thùy D nên HĐXX không đề cập đến.
Tại phiên toà bị cáo đồng ý nộp số tiền 600.000 đồng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán xe cho anh Phạm Hồng T1, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS HĐXX tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Thùy D đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508 và anh Phạm Hồng T1 tự nguyện giao nộp xe xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508, Chị Lê Thị Thùy D và Phạm Hồng T1 đều không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.
[8] Đối với các đối tượng liên quan:
Đối với anh Phạm Hồng T1 có hành vi mua xe máy do bị cáo Hồ Việt H đem đến bán nhưng không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không xử lý là có cơ sở.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 , Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Việt H phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Hồ Việt H 09 (Chín) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. - Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Anh Phạm Hồng T1 tự nguyện giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508. Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thùy D nên hội đồng xét xử không đề cập đến. - Về Biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) - Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Thùy D đã nhận lại tài sản là 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN, biển kiểm soát 37PA-001.41, màu xanh, số khung: B8UMDT484508, số máy: 139FMB484508. Chị Lê Thị Thùy D và Phạm Hồng T1 đều không có yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không đề cập đến.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Việt Hùng phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS
