Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 24 - 7 - 2024

V/v: “Ly hôn và tranh chấp

về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Cao Thế và bà Hoàng Thị Tường Vy

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Mỹ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình;

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 36/2024/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con "; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-DS ngày 09/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1997; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở: Tổ A, khu phố B, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn: anh Lê Quang T, sinh năm 1995; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở: thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Ngọc H với anh Lê Quang T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 30/06/2016 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31/2016. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên càng về sau thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, luôn bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung trong gia đình. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là anh T không lo làm ăn, hay cờ bạc, nợ nần nhiều, không quan tâm tới gia đình. Kể từ tháng 6 năm 2022, anh T bỏ đi vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Chị H nhận thấy tình cảm, quan hệ vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: chị Lê Thị Ngọc H khai chị và anh Lê Quang T có 02 con chung là Lê Huyền Kiều T1, sinh ngày 27/11/2015 và Lê Huyền Khả H1, sinh ngày 18/10/2018. Hiện nay, cháu T1 và cháu H1 đang ở cùng với chị H. Nguyện vọng chị H sau khi ly hôn xin được nuôi hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị Lê Thị Ngọc H khai vợ chồng không có tài sản chung không có nợ chung nên không yêu cầu toà án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Lê Quang T trình bày tại Bản tự khai ngày 06/6/2024 như sau:

Về quan hệ hôn nhân anh T khai thống nhất như chị H và nhất trí ly hôn.

Về con chung: anh T khai có hai con chung thống nhất như chị H khai. Trong thời gian này anh T chưa có công việc ổn định, chưa có có điều kiện nuôi con nên anh T đồng ý giao 02 con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.

Đối với cháu Lê Huyền Kiều T1, sinh ngày 27/11/2015 có đơn trình bày nguyện vọng: sau khi bố mẹ ly hôn, xin được ở với mẹ là Lê Thị Ngọc H.

Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về Tố tung:

1.1 Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Chị Lê Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Quang T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung vợ chồng, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sựCăn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh có thẩm quyền giải quyết vụ án này.

1.2 Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, chị Lê Thị Ngọc H và anh Lê Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/06/2016 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, lý do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, không có sự tôn trọng lẫn nhau, ly thân từ năm 2022. Giữa chị H và anh T không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Tình cảm giữa hai bên không còn khả năng hàn gắn, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H ly hôn anh T để các bên ổn định cuộc sống riêng.

2.2 Về con chung: chị Lê Thị Ngọc H và anh Lê Quang T thống nhất khai có 02 con chung là Lê Huyền Kiều T1, sinh ngày 27/11/2015 và Lê Huyền Khả H1, sinh ngày 18/10/2018. Hiện nay, cháu T1 và cháu H1 đang ở cùng với chị H.

Hội đồng xét xử nhận thấy các cháu Lê Huyền Kiều T1Lê Huyền Khả H1 đang ổn định sinh sống cùng với chị H. Chị H, anh T đều có nguyện vọng giao các con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Cháu Lê Huyền Kiều T1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận để giao các con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các bên và bảo đảm điều kiện tốt nhất cho các cháu T1, H1. Đối với tiền cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

2.3 Về tài sản chung: chị H, anh T khai không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Ngọc H và anh Lê Quang T được ly hôn.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Lê Thị Ngọc H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con Lê Huyền Kiều T1, sinh ngày 27/11/2015 và Lê Huyền Khả H1, sinh ngày 18/10/2018 kể từ tháng 07/2024 đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi); tạm thời không buộc anh Lê Quang T cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về chia tài sản chung, nợ chung: không giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: chị Lê Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh theo biên lai số 0003844 ngày 06 tháng 5 năm 2024. Chị H đã nộp đủ.
  5. Về quyền kháng cáo: chị Lê Thị Ngọc H và anh Lê Quang T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị NGọc Huyền khởi kiện yêu cầu ly hôn Lê Quang Thành
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger