|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HSST
Ngày 24/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tú, bà Trần Hải Yến
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị M; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/5/1982; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: thôn I, xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T – Đã chết; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị V – Sinh năm 1958; Họ tên chồng: Đặng Văn H - Đã chết; Con: Có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Hiện mẹ đẻ và con của bị cáo đều trú tại: thôn I, xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An; Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/01/2024 cho đến nay - Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu L – Sinh năm 1974. Nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Ông Nguyễn Văn T1 – Sinh năm 1975. Nơi cư trú: TDP 4, thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Ông Lê Văn T2 – Sinh năm 1979. Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Ông Trần Văn T3 – Sinh năm 1969. Nơi cư trú: thôn V, xã V, huyện A, Nghệ An. Có mặt
- Ông Nguyễn Viết K – Sinh năm 1979. Nơi cư trú: : thôn V, xã V, huyện A, Nghệ An. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Đức N – Sinh năm 1953. Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 2 năm 2023, Nguyễn Thị M ký hợp đồng với công ty X để mở đại lý bán vé số lô tô cho công ty tại địa bàn huyện A. Sau một thời gian bán vé số lô tô tại cửa hàng thuộc Tổ dân phố D, thị trấn A thì có nhiều người hỏi Mơ có nhận đánh bạc bằng hình thức ghi số lô hay không thì M nảy sinh ý định nhận ghi số lô cho những ai có nhu cầu để kiếm thêm thu nhập.
Nguyễn Thị M đánh bạc với những người khác bằng hình thức ghi số lô, tỷ lệ thắng thua được các bên thống nhất thỏa thuận như sau: Số lô được tính là 23.000 đồng/01 điểm, nếu người chơi thắng thì được 80.000 đồng/1 điểm lô/lần. Nghĩa là khi người khác ghi 01 điểm lô thì phải đưa cho M số tiền 23.000 đồng, nếu người chơi trúng 01 lần trên 01 điểm lô sẽ được Mơ trả số tiền 80.000 đồng, còn nếu thua thì người chơi mất toàn bộ số tiền đã đánh. Kết quả thắng thua dựa vào đối chiếu 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số Miền bắc trong ngày hôm đó. Để phục vụ việc ghi số lô, M đã sử dụng một chiếc bút bi màu xanh nhãn hiệu Thiên Long để ghi số lô vào trong một tờ giấy bên trên có dòng chữ” XỔ SỐ LÔ TÔ” và M ký chữ ký của mình vào tờ giấy đó. Khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 23/01/2024, khi M đang ghi số lô cho các người chơi thì bị tổ công tác Công an huyện A kiểm tra phát hiện, yêu cầu những người ghi số lô về trụ sở Công an huyện A để làm việc. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên M đã đến Cơ quan Công an huyện A để đầu thú, khai nhận hành vi của mình.
Kết quả điều tra, trong ngày 23/01/2024, xác định được Nguyễn Thị M đã thực hiện hành vi đánh bạc với các đối tượng cụ thể như sau :
- - Nguyễn Hữu L, sinh năm 1974, trú tại thôn H, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ghi số lô 39 và 93, mỗi số 10 điểm, tương ứng số tiền là 460.000 đồng.
- - Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố D, thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ghi số lô 78 với 10 điểm, tương ứng số tiền 230.000 đồng.
- - Lê Văn T2, sinh năm 1979, trú tại thôn C, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ghi số lô 00; 07 và 70, mỗi số 30 điểm, tương ứng với số tiền là 2.070.000 đồng.
- - Trần Văn T3, sinh năm 1969, trú tại thôn V, xã V, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ghi số lô 00; 83; 39 và 93, mỗi số 10 điểm, tương ứng số tiền là 920.000 đồng. Ghi số lô 38 với 20 điểm tương ứng số tiền sử dụng đánh bạc 460.000 đồng. Tổng số tiền Trần Văn T3 đánh với M là 1.380.000 đồng.
- - Nguyễn Viết K, sinh năm 1979, trú tại thôn V, xã V, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ghi số lô 01 với 20 điểm tương ứng số tiền là 460.000 đồng. Ghi số lô 37 và 73, mỗi số 10 điểm, tương ứng số tiền là 460.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Viết K đánh với M là 920.000 đồng.
- - Nguyễn Đức N, sinh năm 1953, trú tại thôn B, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ghi số lô 27; 72 và 78;87, mỗi số 5 điểm, tương ứng với số tiền 460.000 đồng.
Như vậy trong ngày 23/01/2024, Nguyễn Thị M đã ghi số lô cho 06 người với tổng số tiền 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Những người đến ghi số lô đều đã thanh toán đầy đủ số tiền cho M.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:
+ Thu giữ số tiền 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi nghìn). Quá trình điều tra xác định đây là số tiền sử dụng vào việc đánh bạc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh nghệ A đã làm thủ tục gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện A, tỉnh Nghệ An để bảo quản theo đúng quy định.
+ Thu giữ của Nguyễn Thị M 01 chiếc bút bi màu xanh nhãn hiệu “Thiên Long” có mã vạch: 8935001800651 và 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ “Công ty TNHH X”; Xổ số lô tô; 10.000đ; mặt trên có ghi các chữ số và chữ ký bằng bút bi; mặt sau được in chữ màu đỏ; Thu giữ của Nguyễn Hữu L: 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5) cm, mặt trước có hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có ghi các số 23/1 và số 39,93x10 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ; Thu giữ của Lê Văn T2: 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có ghi các số 23/1 và số 00,70,07x30 và chữ ký được viết bằng mực màu xanh; Thu giữ của Trần Văn T3: 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước in hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XÔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có nội dung được ghi bằng mực bút bi: 23/1; 00,38x10; 38,83x10; 39,93x10 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ; Thu giữ của Nguyễn Viết K: 01 tờ giấy xổ số lô tô (liên 2 giao cho khách hàng), trên đó ghi ngày 23/1, “01x20”, “37,73x10”; Thu giữ của Nguyễn Đức N: 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước in hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có nội dung được ghi bằng bút màu xanh: 23/1; 27,72; 78,87; x5 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ. Ngày 11/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Anh Sơn để bảo quản theo đúng quy định. Ngày 22/4/2024 Toà án nhân dân huyện Anh Sơn đã trích xuất toàn bộ các vật chứng nói trên tại Chi cục thi hành án dân sự huyện A để phục vụ cho việc xét xử.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HS, ngày 10/4/2024 của VKSND huyện Anh Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giao giữ về tội “Đánh bạc".
Tại phiên toà bị cáo thống nhất như quan điểm của Viện kiểm sát và không có ai tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo nói: Hành vi của bị cáo là sai, bị cáo rất ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận:
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 23/01/2024, tại địa bàn Tổ dân phố D, thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An, khi Nguyễn Thị M đang ghi các số lô cho Nguyễn Hữu L; Trần Văn T3; Nguyễn Viết K; Nguyễn Văn T1; Nguyễn Đức N; Lê Văn T2 với tổng số tiền 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) thì bị tổ công tác Công an huyện A kiểm tra yêu cầu những người ghi số lô về trụ sở Công an huyện để làm việc. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày Nguyễn Thị M đến Công an huyện A đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thị M đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.
Bị cáo đánh bạc bằng hình thức ghi lô, được thua bằng tiền Ngân hàng N1. Bị cáo căn cứ vào kết quả quay thưởng của xổ số miền bắc mở thưởng hằng ngày để ghi lô với các đối tượng. Bị cáo là người nhận cá cược và phải thanh toán tiền nếu người chơi trúng thưởng. Bị cáo chỉ một mình thực hiện hành vi phạm tội.
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là liều lĩnh, coi thường pháp luật. Hành vi đó không những gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống kinh tế, hạnh phúc của mỗi gia đình và nhiều hệ lụy khác cho xã hội.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; lần phạm tội này của bị cáo được xác định là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đầu thú. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Từ việc đánh giá về tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng :
Hành vi của bị cáo là liều lĩnh, coi thường pháp luật. Hành vi đó không những gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn mà còn gây ra nhiều hệ lụy khác cho xã hội và là nguyên nhân có thể làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần
lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc để tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc ít và có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, cho bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng là đủ sức răn đe giáo dục.
Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Trong vụ án này các đối tượng Nguyễn Hữu L, Trần Văn T3, Nguyễn Viết K, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Đức N, Lê Văn T2 đã có hành vi đánh bạc với Nguyễn Thị M, nhưng do số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng này không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên hành vi chưa cấu thành tội đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là đúng quy định của pháp luật
[4] Về xử lý vật chứng:
+ Đối với số tiền 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
+ Đối với 01 phong bì thư bên trong có chứa 01 chiếc bút bi màu xanh nhãn hiệu “Thiên Long” có mã vạch: 8935001800651 thu giữ của Nguyễn Thị M. Xét thấy chiếc bút bi là công cụ phương tiện phạm tội, 01 phong bì thư chứa vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
+ Đối với 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ “Công ty TNHH X”; Xổ số lô tô; 10.000 đ, mặt trên có ghi các chữ số và chữ ký bằng bút bi, mặt sau được in chữ màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị M; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có ghi các số 23/1 và số 39,93x10 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ thu giữ của Nguyễn Hữu L; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000đ, mặt trên có ghi các số 23/1 và số 00,70,07x30 và chữ ký được viết bằng mực màu xanh thu giữ của Lê Văn T2; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước in hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có nội dung được ghi bằng mực bút bi: 23/1; 00,38x10; 38,83x10; 39,93x10 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ Thu giữ của Trần Văn T3; 01 tờ giấy xổ số lô tô (liên 2 giao cho khách hàng), trên đó ghi ngày 23/1, “01x20”, “37,73x10” thu giữ của Nguyễn Viết K1; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước in hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có nội dung được ghi bằng bút màu xanh: 23/1; 27,72; 78,87; x5 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ thu giữ của Nguyễn Đức N. Xét thấy đây là các tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị M là đối tượng thuộc diện hộ nghèo nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện A nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị M cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị M.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.520.000 đồng (Năm triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc.
(Theo biên bản giao, nhận tài sản giữa Công an huyện A và Kho bạc nhà nước huyện A ngày 29/01/2024)
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì màu trắng bên trên có chữ “Công an tỉnh N” dán kín, tại các mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong và chữ ký của Nguyễn Thị M, hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện A, bên trong có chứa 01 chiếc bút bi màu xanh nhãn hiệu “Thiên Long” có mã vạch: 8935001800651 thu giữ của Nguyễn Thị M.
- - Lưu vào hồ sơ vụ án đối với các vật chứng sau: 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ “Công ty TNHH X”; Xổ số lô tô; 10.000 đ; mặt trên có ghi các chữ số và chữ ký bằng bút bi; mặt sau được in chữ màu đỏ thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị M; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có ghi các số 23/1 và số 39,93x10 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ thu giữ của Nguyễn Hữu L; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước có hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000đ, mặt trên có ghi các số 23/1 và số 00,70,07x30 và chữ ký được viết bằng mực màu xanh thu giữ của Lê Văn T2; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước in hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có nội dung được ghi bằng mực bút bi: 23/1; 00,38x10; 38,83x10; 39,93x10 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ Thu giữ của Trần Văn T3; 01 tờ giấy xổ số lô tô (liên 2 giao cho khách hàng), trên đó ghi ngày 23/1, “01x20”, “37,73x10” thu giữ của Nguyễn Viết K1; 01 tờ giấy có kích thước (8,5x6,5)cm, mặt trước in hoa văn và in chữ CÔNG TY TNHH X; XỔ SỐ LÔ TÔ 10.000Đ, mặt trên có nội dung được ghi bằng bút màu xanh: 23/1; 27,72; 78,87; x5 và chữ ký, mặt sau được in chữ màu đỏ thu giữ của Nguyễn Đức N.
(Theo phiếu xuất kho vật chứng ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An).
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.520.000 đồng (Năm triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.
Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Nguyễn Thị M.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/4/2024; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ trở UBND xã, phường, thị trấn nơi người vắng mặt cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Phú |
Bản án số 13/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 13/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M - Đánh bạc
