TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HNGĐ- ST Ngày 23/5/2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi
Bà Nguyễn Thị Tin
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Nhẫn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 180/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994; nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện nay: Thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh P kết hôn ngày 14/6/2021. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng anh P và bố mẹ anh P tại thôn T, xã T. Đến đầu năm 2014 thì vợ chồng ra ở riêng tại nhà đất thuộc mặt đường thôn T, xã T của bố mẹ anh P. Cuộc sống vợ chồng vài năm đầu sau khi kết hôn hòa thuận hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa vợ chồng phát sinh từ khoảng đầu năm 2017, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P chơi bời cờ bạc, rượu chè dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, có lần anh P còn đánh chị. Chị và gia đình hai bên đã khuyên bảo anh P nhiều lần nhưng không có kết quả, chị cũng cho anh P nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng anh P không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng trở lên trầm trọng từ khoảng tháng 10 năm 2022. Vợ chồng chị chính thức sống ly thân nhau và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ đầu năm 2023 đến nay. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay thỉnh thoảng anh P gọi điện cho chị để hỏi thăm tình hình các con, ngoài ra còn để dọa nạt chị. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Phạm Huyền P1, sinh ngày 25/10/2013 và cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 19/01/2021. Từ khi vợ chồng ly thân cả hai con chung vẫn ở với chị và bố mẹ đẻ của chị. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu P1 và cháu L. Chị không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
Căn cứ để chị đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con chung là:
Thứ nhất: Từ nhỏ đến nay cả hai con chung đều vẫn ở cùng với chị và bố mẹ đẻ của chị tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Chị đi làm kinh tế để nuôi con nhưng cuối tuần hay ngày nghỉ, ngày lễ tết chị vẫn về để cùng bố mẹ chị chăm sóc và dạy bảo các con. Bố mẹ đẻ của chị đều vẫn còn rất trẻ, rất yêu thương và quan tâm đến các cháu. Hiện nay cả hai cháu Phạm Huyền P1 và cháu Phạm Thùy L đều đã học tập ổn định tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy, chị không muốn thay đổi môi trường sống và học tập của các con và không muốn tách các con ra vì bản thân hai con của chị rất thương yêu và quấn quýt nhau.
Thứ hai: Từ khoảng năm 2017 đến nay chị một mình nuôi con nhưng anh P chỉ gửi cho chị được khoảng 5.000.000 đồng để lo cho con, còn mọi thứ chị và bố mẹ đẻ của chị là người lo cho các con của chị. Như vậy thể hiện việc anh P thiếu trách nhiệm với các con.
Thứ ba: Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty S ở Bắc Ninh, thu nhập bình quân là 12.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, những khi được nghỉ làm chị còn làm thêm nghề nail và trang điểm. Do vậy, chị cũng có thêm một khoản thu nhập để trang trải cuộc sống của ba mẹ con. Với mức thu nhập như vậy chị hoàn toàn đảm bảo điều kiện về kinh tế để nuôi con tốt.
Thứ tư: Bản thân anh P không có công việc ổn định, làm tự do. Anh P ở có một mình, không ở chung cùng bố mẹ đẻ của anh P, bố của anh P bị bệnh hay phải nằm viện điều trị hơn nữa cả bố và mẹ của anh P đều đã ngoài 70 tuổi nên không phụ giúp được cho anh P trong việc trông nom, chăm sóc các con chị được chu đáo.
Tuy nhiên, sau này trong quá trình giải quyết vụ án chị T cũng xác định nay anh P mong muốn nuôi một con chung thì chị cũng nhất trí. Nhưng chị chỉ đồng ý để anh P nuôi cháu Phạm Huyền P1, sinh ngày 25/10/2013, đề nghị Tòa án giao cháu cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 19/01/2021 cho chị nuôi dưỡng vì cháu L còn quá nhỏ.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Văn P trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau vào ngày 14 tháng 6 năm 2012, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh thuê nhà ở tại huyện Q, tỉnh Bắc Ninh để tiện cho công việc làm ăn. Sau đó anh và các con về quê chị T ở huyện T, tỉnh Thanh Hóa sinh sống, còn chị T vẫn tiếp tục ở trọ tại Bắc Ninh làm việc. Thời gian đầu sau khi cưới vợ chồng anh sống với nhau rất hòa thuận hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa anh và chị T phát sinh từ khoảng cuối năm 2022. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do sau khi vợ chồng làm xong nhà ở Bắc Giang, anh muốn chị T về quê ở không phải đi thuê ở trọ nữa và vợ chồng đón con về ở cùng nhưng chị T không đồng ý. Từ những bất đồng trong quan điểm như vậy nên tình cảm vợ chồng anh ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Từ đầu năm 2023 đến nay vợ chồng anh không còn quan hệ tình cảm gì nữa, thỉnh thoảng anh có gọi điện, nhắn tin cho chị T nhưng chị T không trả lời.
Nay, chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh, anh xác định vợ chồng vẫn có khả năng đoàn tụ nên anh có nguyện vọng Tòa án hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ cùng nhau nuôi dậy con cái. Trường hợp chị T vẫn nhất quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Phạm Huyền P1, sinh ngày 25/10/2013 và cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 19/01/2021. Hiện cả hai con chung đều đang ở với bố mẹ đẻ của chị T tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Trường hợp vợ chồng ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 19/01/2021; giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Huyền P1, sinh ngày 25/10/2013. Anh không đề nghị chị T cấp dưỡng nuôi con chung cho anh.
Căn cứ để anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Thùy L là vì từ khi các con còn nhỏ anh là người trực tiếp chăm sóc cho các con, anh luôn yêu thương và quan tâm đến các con. Thời gian chị T làm ở KCN Q, tỉnh Bắc Ninh thì anh vẫn ở quê của chị T để cùng bố mẹ đẻ của chị T chăm sóc các con. Sau này khi anh đi làm ăn xa thì anh mới không trực tiếp chăm sóc cho các con được. Hiện nay anh đã có nhà đất tại thôn T, xã T, huyện Y. Trước đây anh làm công nhân lắp ráp thang máy tại Công ty T1, địa chỉ tại thành phố B, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/01 tháng nhưng hiện tại anh làm tự do ở gần nhà, thu nhập bình quân là 8.000.000 đồng/01 tháng nên anh có điều kiện về thời gian và kinh tế để nuôi dạy con tốt.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng anh không có tài sản gì chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, chị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố nội dung vụ án, thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của chị T anh P, thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên chưa chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật
+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điều Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39,Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Văn P.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi con chung là cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 19/01/2021, giao cho anh Phạm Văn P trực tiếp nuôi con chung là cháu Phạm Huyền P1, sinh ngày 25/10/2013.
Về cấp dưỡng nuôi: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Kiến nghị: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là anh chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị T anh P.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Phạm Văn P, anh P có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
[3]. Về nội dung:
[3.1] .Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vào ngày 14/6/2012. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Chị T xin ly hôn anh P, căn cứ để chị xin ly hôn là do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ khoảng đầu năm 2017. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P chơi bời cờ bạc, rượu chè dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị và gia đình hai bên đã khuyên bảo anh P nhiều lần nhưng không có kết quả, chị cũng cho anh P nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng anh P không thay đổi. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị trở lên trầm trọng từ khoảng tháng 10 năm 2022. Vợ chồng chị chính thức sống ly thân nhau và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ đầu năm 2023 đến nay.
Về phía anh P không đồng ý ly hôn, tuy nhiên chính bản thân anh P cũng xác nhận vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Anh P xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do sau khi vợ chồng xây nhà xong anh muốn chị T về quê ở không phải đi thuê ở trọ nữa và vợ chồng đón con về ở cùng nhưng chị T không đồng ý. Từ những bất đồng trong quan điểm như vậy nên tình cảm vợ chồng anh ngày càng lạnh nhạt, xa cách.
Đồng thời qua xác minh tại địa phương thì thấy: Anh P và chị T sau khi cưới ít khi ở địa phương mà đi ở trọ ngoài Bắc Ninh. Địa phương cũng nghe thông tin giữa anh P và chị T có xảy ra mâu thuẫn với nhau nên anh, chị không còn chung sống với nhau nữa. Tuy nhiên mâu thuẫn cụ thể giữa anh P và chị T như thế nào thì địa phương không nắm được. Nay, chị T xin ly hôn anh P, địa phương đề nghị Tòa án Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Từ những phân tích nêu trên, chứng tỏ hôn nhân giữa chị T và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu của chị T xin ly hôn anh P là có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho chị T được ly hôn anh P.
[3.2]. Về con chung: Chị T anh P có hai con chung là cháu Phạm Huyền P1, sinh ngày 25/10/2013 và cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 19/01/2021. Hiện nay cả hai con chung đều đang ở cùng chị T và bố mẹ đẻ của chị T. Nay ly hôn, chị T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu P1 và cháu L, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con cho chị. Phía anh P không đồng ý để chị T nuôi cả hai con chung, anh P đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu L, giao cháu P1 cho chị T nuôi, anh không đề nghị chị T cấp dưỡng nuôi con cho anh. Quá trình giải quyết vụ án sau này, chị T cũng nhất trí để anh P nuôi một con chung, tuy nhiên chị đề nghị giao cho anh P nuôi cháu P1, đối với cháu L còn nhỏ chị đề nghị Tòa án giao cho chị nuôi.Về yêu cầu này của chị T, anh P, Hội đồng xét xử thấy việc chị T nhất trí để anh P nuôi một con chung là sự tự nguyện của chị và phù hợp nên cần chấp nhận. Tuy nhiên hiện nay cháu L còn nhỏ, cần sự quan tâm và chăm sóc của người mẹ hơn. Cháu P1 mặc dù nguyện vọng được ở với mẹ, nhưng để cuộc sống của cháu P1 và cháu L được đảm bảo phát triển tốt nhất về thể chất cũng như tinh thần thì Hội đồng xét xử căn cứ điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu L; giao cho anh P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu P1 là phù hợp.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T, anh P đều không không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của chị T và anh P nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị T, anh P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 Luật hôn nhân gia đình.
[3.3]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T, anh P không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, X:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Văn P.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 19/01/2021; giao cho anh Phạm Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Huyền P1, sinh ngày 25/10/2013.
Chị T, anh P có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T, anh P thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu thu số 0000413 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Anh |
Bản án số 13/2024/HNGĐ- ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị T kiện xin ly hôn anh Phạm Văn T
