Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS-ST

Ngày: 23-5-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mùa
  2. Ông Lê Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Hoa – Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng – Kiểm sát viên

Trong các ngày 22 và 23 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Phùng Huy D, sinh năm 1977 và bà Trần Thị T, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; (có mặt).
  • (Bà Trần Thị T uỷ quyền cho ông Phùng Huy D theo Giấy uỷ quyền số công chứng 121, quyển số 01/2023-SCT/CK, ĐC ngày 07/02/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
  • * Bị đơn: Bà Điểu Thị H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Điểu Thị Ú, sinh năm 1991; (có mặt).
    • Ông Điểu T1, sinh năm 1980; (có mặt).
    • Ông Điểu T2, sinh năm 1973; (có mặt).
  • Cùng địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước

* Người làm chứng:

Bà Thị Bư R, sinh năm 1955

Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phùng Huy D và bà Trần Thị T cùng thống nhất trình bày:

Gia đình ông D có một mảnh đất có diện tích 11901,0m², đất tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS007103/CLTCS005552/CNTN-ĐTDT ngày 31/5/216/12/2021 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Phùng Huy D và bà Trần Thị T, thửa đất số 626, tờ bản đồ số 17.

Vào năm 2021, gia đình bà Điểu Thị Ú có mảnh đất có diện tích 5707,7m², phần diện tích đất này giáp ranh với phần diện tích của gia đình ông D, bà Ú có ý định bán đất để lấy tiền chữa bệnh cho mẹ và trả nợ ngân hàng, do đất giáp ranh nên ông D, bà T có nhận chuyển nhượng đất của bà Ú để nhập vào đất của gia đình ông D. Khi chuyển nhượng ông D, bà T với bà Ú có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định, gia đình ông D đã giao tiền và được bà Ú giao đất để sử dụng. Đến ngày 12/11/2021 ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS005427/CN-ĐBDT diện tích đất 5707,7m², thửa đất số 478, tờ bản đồ số 17.

Đến năm 2022, ông D, bà T chuyển nhượng một diện tích 5372,7m², trong phần diện tích 11901,0m², thửa đất số 626, tờ bản đồ số 17 cho bà Lưu Thị T3, phần diện tích còn lại là 6528,3m², gia đình ông D đã tiến hành nhập vào phần đất mua của bà Ú thành một thửa. Đến ngày 31/5/2022, gia đình ông DT được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 007103/CLTN, thửa đất số 659, tờ bản đồ số 17 với diện tích đất 12236,0m².

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất ông DT có thỏa thuận với bà Điểu Thị H là hai bên sẽ mời địa chính về để xác định ranh mốc giữa hai bên. Nguyên nhân là trước đây bà Thị Bư R là mẹ của bà Điểu Thị H, Điểu Thị Ú, ông Điểu T1 đã cho 03 chị em mỗi người một phần đất trên tổng diện tích đất của bà. Nhưng từ lúc cho cho đến nay 03 anh em bà H, bà Ú, ông T1 chưa cắm mốc ranh nên chưa xác định được ranh giới. Sau khi các bên thống nhất như vậy nhưng bà H lại không cho địa chính vào đo đạc mà tự đi chôn cọc bê tông một mình mà không báo với ông D và ông T1, khi ông D phát hiện thấy việc bà H cắm cọc bê tông sai nên ông D đã mời địa chính xã về xác định ranh giới và cắm mốc lại cho 03 nhà thì bà H không đồng ý, nên địa chính xã không đo đạc được và bà vẫn cứ tự cắm mốc như vậy. Vì vậy, ông D đã nhờ địa chính xã đo lại phần diện tích của gia đình ông D nhận chuyển nhượng từ bà Điểu Thị Ú thì phát hiện bà H đã cắm mốc lấn sang phần diện tích đất của gia đình ông D. Sau

đó ông D có gặp bà H để thương lượng nhưng bà H không đồng ý, nên ông DT có làm đơn khởi kiện ra Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B để hòa giải nhưng không thành. Nguyên nhân của việc bà H lấn đất của gia đình ông D là do khi bà H tự cắm cọc bê tông, thì phía bên nhà ông T1 lại dư 10m, nên tại buổi hòa giải ở Ủy ban nhân dân xã Đ, ông T1 đồng ý với phần diện tích của ông T1 cấp theo sổ nên phần dư 10m này ông T1 đồng ý để bà H lùi lại để trả lại cho gia đình ông D 10m theo đúng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, nhưng bà H vẫn không đồng ý.

Do đó, ông D và bà T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết, buộc bà Điểu Thị H trả lại phần diện tích đã lấn chiếm của gia đình ông D là 626,4m² (kết quả đo đạc thực tế), đất tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đất có vị trí: Phía đông giáp đất bà H; phía tay giáp đất của ông D; phía nam giáp đất ông H1; phía bắc giáp đường thôn.

2. Bị đơn bà Điểu Thị H trình bày như sau:

Gia đình bà Điểu Thị H có một mảnh đất có diện tích 1647,9m², tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 003226/TA-TN ngày 09/4/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Điểu Thị H. Nguồn gốc đất do mẹ của bà H là bà Thị Bư R cho vào khoảng năm 2006 (không nhớ cụ thể năm). Phần diện tích đất này được tách từ phần diện tích đất của bà Thị Bư R, vì sau khi bố của bà H chết năm 2003 vài năm thì bà Thị Bư R chia đất cho 03 chị em gồm có bà Điểu Thị H, anh Điểu T1, em Điểu Thị Út. Sau khi mẹ của bà H chia đất thì đất của ai người đó quản lý sử dụng. Thứ tự là phần đất của Điểu T1, đến đất của bà Điểu Thị H và sau đó là đất của Điểu Ú. Các chị em bà H sử dụng đất ổn định từ đó đến nay, không có tranh chấp về ranh giới.

Tuy nhiên, vào năm 2022, bà Điểu Thị Ú chuyển nhượng phần diện tích đất của Điểu Thị Ú cho ông Phùng Huy D, bà H2 nghĩ việc chuyển nhượng phần diện tích đất của bà Ú đang sử dụng thì bà H ký giáp ranh cho ông D, nhưng không hiểu vì sao ông D sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì lại quay sang đòi bà H trả 12m đất mặt tiền cho ông D, bà H không rõ nguyên nhân. Đất của gia đình bà H sau khi được mẹ chia đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có ranh giới rõ ràng. Trước khi ông D nhận chuyển nhượng đất của bà Ú thì giữa phần đất hai gia đình đã có ranh giới cụ thể. Ranh giới được thể hiện bằng cọc bê tông, và trồng hàng chuối giữa hai nhà, cọc bê tông được chôn từ lúc bà Thị Bư R phân chia đất cho 03 anh chị em.

Nay ông D yêu cầu bà H trả lại phần diện tích đất 626,4m² (kết quả đo đạc thực tế), đất tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, đất có vị trí: Phía đông giáp đất bà H; phía tay giáp đất của ông D; phía nam giáp đất ông H1; phía bắc giáp đường thôn thì bà H không đồng ý với yêu cầu của ông D, vì diện tích đất của gia đình bà H sử dụng đúng phần diện tích đất mà gia đình bà H đã được cấp, có ranh giới rõ ràng, việc ông D thiếu đất là do đâu thì bà H không biết, nếu bà Ú bán đất cho ông D thiếu đất thì ông D phải đòi bà Ú mới đúng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Điểu Thị Ú trình bày:

Điểu Thị Ú có một mảnh đất có diện tích 5707,7m², tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Điểu Thị Út. Nguồn gốc đất này là do mẹ của bà là bà Thị Bư R làm thủ tục tặng cho, nhưng thực tế là đất này vẫn do bà Ú và bà Thị Bư R cùng nhau sử dụng, bà Ú chỉ là người đứng tên. Năm 2015, bà Thị Bư R có tiến hành chia đất cho 03 anh chị em bà Ú gồm có: Anh Điểu T1, chị Điểu Thị HĐiểu Thị Ú, sau đó đến năm 2018 thì mới làm thủ tục tặng cho, nên lúc này mới tiến hành đo đạc để cấp sổ, lúc này có cắm mốc ranh với nhau. Sau này, do tiêu chết nên bà Ú cũng không để ý đến vườn của nhà nữa mà đi làm cạo mủ cao su thuê nên bà H lấn phần diện tích đất này từ khi nào bà Ú cũng không rõ, vì lúc đó không còn thấy cây cọc cắm ranh đâu nữa.

Đến năm 2021, bà Ú làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phùng Huy D, bà Ú có nói là chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền dụng đất đã được cấp, bà Ú có nói với chị Điểu Thị H là đã bán đất cho ông D, nên khi ông D đo đất thì chị khôi phục lại ranh đất cho ông D, nhưng chị H không chịu nghe. Sau đó, khi bà Ú đã giao đất cho ông D thì chị H tự mang cọc bê tông ra tự chôn làm ranh giới mà không báo với bà Ú và ông D. Ranh giới giữa hai nhà đều không xác định được là cái gì, vì khi sử dụng nhà bà Ú trồng tiêu thì nhà chị H cũng trồng tiêu, nên khi tiêu chết, bà Ú không làm vườn nữa nên chị H có lấn sang phần đất của bà Ú nhưng vì chị em nên bà Ú không nói, hơn nữa đất đã được cấp giấy chứng nhận rồi thì cứ theo sổ làm. Đến khi bà Ú bán cho ông D thì ông D đo lại thấy đất thiếu mà nhà anh T1 dư đất, có yêu cầu chị H dời ranh lại trả đất cho ông D thì chị H không đồng ý nên mới tranh chấp. Còn cột bê tông làm ranh giới đất hiện nay là do chị H mới chôn sau khi ông D nói chị H lấn chiếm đất nên một mình chị H tự chôn năm 2022 chứ không phải chôn từ khi được mẹ chia đất.

Nay ông D khởi kiện yêu cầu bà H trả lại phần diện tích đất tranh chấp thì bà Ú không có ý kiến gì vì bà Ú đã bán đất cho ông D rồi, thì ông D cứ sử dụng, còn diện tích đất tranh chấp thì Tòa án cứ giải quyết theo quy định pháp luật

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Điểu T1 trình bày:

Ông Điểu T1 có một mảnh đất có diện tích 1000,6m², tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Điểu T1. Nguồn gốc đất là vào năm 2015, mẹ của ông T1 là bà Thị Bư R có tiến hành chia đất cho 03 anh chị em ông gồm có: bà Điểu Thị Ú, chị Điểu Thị H và ông Điểu T1 để quản lý sử dụng, đến năm 2018 mới làm thủ tục tặng cho, lúc này mới tiến hành đo đạc để cấp sổ. Khi đo đạc cấp giấy chứng nhận có cắm mốc ranh với nhau nhưng không làm hàng rào. Đến ngày 09/4/2018 thì cả ba anh chị em đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với đất của ông T1 được cấp giấy chứng nhận số CS 003227/TA-TN, thửa đất số 476, tờ bản đồ số 17 với diện tích đất 1000,6m². Vì phần diện tích đất này mẹ ông T1 cho ông để làm nhà ở và nó ngắn hơn, nên diện tích đất mặt tiền của bà Ú là 26,76 m. Sau khi được cho đất thì ông T1 có làm nhà ở trên đất,

còn lại ông T1 đi làm rừng không có mặt ở nhà, thỉnh thoảng mới về nên trong quá trình sử dụng ông T1 không để ý đến mốc ranh và ranh giới giữa ông T1 và bà H. Việc bà H sử dụng đất đến đâu thì ông T1 không để ý. Đến khi Điểu Thị Ú bán đất cho ông D thì mới biết là bà H có sử dụng lấn qua nhà của Điểu Ú. Ông D có làm đơn ra xã để đo đạc lại thì mới biết bà H đã không sử dụng 10m mặt tiền kéo xuống giáp với đất nhà ông T1 mà lại lấn qua đất nhà Điểu Ú. Khi hòa giải ở xã, ông T1 đã nói rõ là 10m đất này của bà H nhưng bà H không chịu mà cứ khẳng định là đất của ông T1. Vì khi đo đạc thì ông T1 lấy mốc ranh từ nhà ông Điểu T2 kéo qua cho đủ 26m nhưng ông T1 không biết phần đất nhà ông Điểu T2 có lấn qua nhà ông T1 (theo sơ đồ đo đạc lấn 3,67m) nên ông T1 có lấn qua nhà bà H là 3,75m. Ông T1 đồng ý trả lại cho bà H như ranh của bản đồ chính quy đã cấp cho gia đình ông T1 với bà H.

5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Điểu T2 trình bày:

Ông Điểu T2 là anh trai của Điểu T1, Điểu Thị HĐiểu Thị Út. Ông Điểu T2 có mảnh đất giáp ranh với đất của Điểu T1. Vào năm 2015 khi mẹ của ông Điểu T2 là bà Thị Bư R chia đất cho T1, H, Ú thì ông Điểu T2 cũng biết, sau đó đến năm 2018 thì mới làm thủ tục tặng cho, nên lúc này mới tiến hành đo đạc để cấp sổ. Trong quá trình đo đạc thì ông Điểu T2 có chỉ mốc ranh phía bên nhà ông T2 với nhà Điểu T1, sau đó thì đo từ nhà Điểu T1 qua đến nhà Điểu Thị H, rồi mới tới đất của Điểu Thị Út. Sau khi cắm mốc đo đạc thì phần đất của ai người đó sử dụng, ông T2 không để ý nữa. Cho đến khi Điểu Thị Ú bán đất cho ông Phùng Huy D thì mới phát sinh tranh chấp với nhau về ranh giới. Ông T2 thấy Điểu Thị H đã sử dụng đất không đúng với sổ được cấp mà lại lấn sang đất của Điểu Thị Ú, nhưng H lại không chịu.

Qua đo đạc thực tế cho thấy phần diện tích đất 77,9m² mà bà Điểu Thị H và phần diện tích đất 83,9m² mà ông T1 đang sử dụng thực tế có lấn qua phần đất ông T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T2 đồng ý theo mốc ranh mà bà Điểu Thị H, ông Điểu T1 đang sử dụng, không yêu cầu bà H, ông T1 trả lại.

6. Người làm chứng: bà Thị Bư R trình bày:

Thị Bư R là mẹ ruột của ông Điểu T1, bà Điểu Thị HĐiểu Thị Ú, còn ông D là người quen do bà bán đất cho ông D. Bà Bư R có biết việc tranh chấp giữa ông D và bà H. Nội dung tranh chấp là phần diện tích đất Điểu Thị Ú chuyển nhượng cho ông D, cụ thể như sau: Bà Bư R có một mảnh đất có diện tích 8361,6m², tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Thị Bư R nhưng lâu quá Bà không nhớ năm cấp là năm bao nhiêu. Đến khoảng năm 2015 thì Bà có chia phần diện tích đất này ra cho các con gồm có: Điểu Thành 1 sào, Điểu Thị H 1,6 sào, còn lại là phần diện tích đất của BĐiểu Thị Ú, Thị B1 là khoảng 5,7 sào. Đến năm 2018 thì tiến hành tách sổ cho Điểu T1, Điểu H, phần đất còn lại Bà để cho Điểu Thị Ú đứng tên. Khi cho đất không đo đạc gì cả, nhưng khi tách sổ thì cán bộ địa chính có về đo phần diện tích đất của 03 người rồi mới được

cấp sổ. Lúc cho trên đất có cây điều, sau đó thì ÚH đều cắt điều đi trồng tiêu, hiện nay tiêu đã chết, trên phần của Bà thì vẫn còn cây điều.

Thời điểm bà Thị Bư R cho các con đất thì các bên đều không chỉ ranh mốc gì cả, Bà chỉ nói cho mỗi đứa khoảng 20m đất mặt tiền rồi các con tự liên hệ làm sổ và đo đạc như thế nào, cắm mốc với nhau hay không Bà không rõ. Phần đất ngoài cùng là cho Điểu T1, kế đến giáp D là của Điểu Thị H, sau đó đến phần diện tích đất còn lại là của Điểu Thị Ú đứng tên. Việc cho đất sau đó đã làm thủ tục, được đo đạc và đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cứ sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Năm 2021, do bị bệnh và tiền nợ ngân hàng nên BĐiểu Thị Ú thống nhất là chuyển nhượng phần diện tích đất 5,7 sào này cho ông Phùng Huy D, diện tích đất chuyển nhượng là hết phần diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Điểu Thị Út. Việc chuyển nhượng đã thực hiện xong, bà Thị Bư RĐiểu Thị Ú đã nhận đủ tiền và giao đất sang tên cho ông Phùng Huy D. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông D tiến hành đo đạc lại thì phát hiện đất bị thiếu, nguyên nhân bị thiếu đất là do Điểu Thị H đã sử dụng sang phần đất đã cấp cho Điểu Thị Út. Nay ông D kiện bà H trả lại phần diện tích đất tranh chấp thì bà không có ý kiến gì vì BĐiểu Thị Ú đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D rồi, thì ông D cứ sử dụng, còn diện tích đất tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tại phiên toà sơ thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn giữ nguyên ý kiến không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các bên đương sự không thoả thuận được phần nào về giải quyết vụ án.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Luật Tố tụng dân sự; Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 500, 502, 503 của Bộ luật dân sự 2015; các Điều 100, 188, 202, 203 của Luật Đất đai, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Huy D, buộc bà Điểu Thị H trả lại phần diện tích đất 626,4m² (diện tích đo đạc thực tế) mà bà H đang sử dụng lấn sang đất của ông Phùng Huy D theo như diện tích đất trên sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do nguyên đơn ông Phùng Huy D thực hiện quyền khởi kiện. Vì bị đơn bà Điểu Thị H và diện tích đất tranh chấp đều thuộc thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:

Ông Phùng Huy D khởi kiện yêu cầu bà Điểu Thị H trả lại phần diện tích 626,4m² (kết quả đo đạc thực tế), đất tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đất có vị trí: Phía đông giáp đất bà H; phía tay giáp đất của ông DT; phía nam giáp đất ông H1; phía bắc giáp đường thôn.

Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự thể hiện: Vào năm 2021 ông Phùng Huy D nhận chuyển nhượng 01 mảnh đất có diện tích 5707,7m², thửa đất số 478, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi chuyển nhượng các bên có thỏa thuận là chuyển nhượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ranh giới giữa bà Ú và bà H chưa được xác định nên sau khi chuyển nhượng xong thì hai bên ông D và bà H tiến hành đo đạc lại theo đúng diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, sau khi ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H không chịu tiến hành đo đạc để xác định ranh giới giữa hai bên nên phát sinh tranh chấp.

Xét về nguồn gốc đất: bà Thị Bư R có một mảnh đất có diện tích 8361,6m², tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng năm 2015 thì bà Thị Bư R có chia phần diện tích đất này ra cho các con gồm có: Điểu Thành 01 sào, Điểu Thị H 1,6 sào, còn lại là phần diện tích đất của bà Thị Bư RĐiểu Thị Ú, Thị B1 là khoảng 5,7 sào. Đến năm 2018 đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03188/CQ ngày 05/3/2018 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Thị Bư R. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Bư R đã làm thủ tục tặng cho T1, H, Út phần diện tích đã cho và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng người: Điểu Thành với diện tích đất 1000,6m², thửa đất số 476, tờ bản đồ số 17, cấp ngày 09/4/2018 giấy chứng nhận số CS 003227/TA-TN; Điểu Thị H với diện tích 1647,9m², tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 003226/TA-TN ngày 09/4/2018 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Điểu Thị H; Điểu Thị Ú: có diện tích 5707,7m², tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 003228/TA-TN. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không ai có khiếu nại hay tranh chấp gì cho đến khi bà Điểu Thị Ú chuyển nhượng đất cho ông Phùng Huy D thì các bên phát sinh tranh chấp.

Qua xem xét thẩm định và đo đạc thực tế xác định, phần diện tích đất mà ông Điểu T1 được cấp là 1000,6m², nhưng do phần đất của ông Điểu T2 có lấn qua phần diện tích của ông Điểu T1 là 3,67m ngang (tổng là 87m²), nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Điểu T1 không yêu cầu ông Điểu T2 phải trả lại đất cho ông T1 và ông T1 cũng đồng ý phần diện tích lấy theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần diện tích đất bị ông T2 sử dụng thì ông chịu trách nhiệm, không yêu cầu. Do ông T2 lấn qua nên ông T1 có lấn sang phần diện tích của nhà bà H là 3,75m ngang nên sau khi đo đạc ông T1 đã đồng ý trả lại phần diện tích đất này về cho bà H, ông không sử dụng nữa. Đối với phần diện tích đất của bà H qua đo đạc thực tế thì gia đình bà đang sử dụng là 2113,9m²; trong đó có phần diện tích 77,9 m² lấn sang đất thửa số 20, tờ bản đồ số 18 là đất của ông Điểu T2. Mặt khác, qua so sánh giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất đo đạc thực tế thì thấy rằng phần diện tích bà H đang sử dụng không đúng vị trí theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đáng lẽ, bà H phải sử dụng đất giáp ranh với phần diện tích đất với nhà ông Điểu T1 kéo qua, nhưng bà H lại không đồng ý vì cho rằng đây là đất của ông T1. Nhưng tại phiên tòa ông T1 khẳng định ông chỉ lấn qua đất của H 3,75 m ngang, sau khi đo đạc ông đã tự động trả lại đất cho bà H cho đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn lại đất dư giữa ông và bà H là đất của bà H ông không sử dụng như bà H trình bày. Tại phiên tòa bà H vẫn cho rằng bà sử dụng đất đúng với giấy chứng nhận bà được cấp chứ bà không sử dụng sai, vì đất đó trước giờ bà vẫn sử dụng.

Qua xem xét thực tế, các bên nhà ông T1, bà H, bà Ú không có cọc mốc phân định ranh giới, điều này cũng phù hợp với lời trình bày của bà Ú, ông T1, bà Bư R là do là chị em, đất mẹ cho làm nên hai bên không tính toán mà cứ sử dụng bình thường không có ranh mốc mà sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau này ai chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì đi đo đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, sau năm 2018 thì bà H và bà Ú cùng trồng tiêu với nhau cũng không định mốc ranh cụ thể, sau khi cây tiêu của bà Ú chết dần nên bà Ú không trồng tiêu nữa mà bỏ đi làm thuê nên bà H ở nhà chăm sóc cây tiêu thì có lấn qua đất của bà Ú, nhưng vì là chỗ chị em nên không tính toán cứ để chị gái làm, nên khi bà Ú chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D thì cũng thông báo cho ông D biết là ranh giới hai nhà không có, phải đo đạc xác định lại ranh mốc. Nhưng khi ông D yêu cầu địa chính xã đo đạc thì bà H không đồng ý với việc đo đạc diện tích đất các bên đã được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những phân tích và chứng cứ như trên thấy rằng, phần diện tích đất của bà H sử dụng không đúng vị trí theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên đã lấn sang phần diện tích của ông D. Căn cứ vào sơ đồ đo đạc

thực tế thì phần diện tích tranh chấp là 626,4m² (kết quả đo đạc thực tế), đất tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đất có vị trí: Phía đông giáp đất bà H; phía tay giáp đất của ông D; phía nam giáp đất ông H1; phía bắc giáp đường thôn. Ông D yêu cầu bà H trả lại phần diện tích đất lấn chiếm này là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3]. Đối với yêu cầu của bị đơn bà Điểu Thị H cho rằng bà sử dụng đất đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không lấn chiếm nên bà không đồng ý với yêu cầu của ông D, nhưng phần trình bày của bà H không có căn cứ nên không được hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về các chi phí tố tụng: đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản là 8.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn bà H phải chịu. Do nguyên đơn ông D đã nộp tạm ứng trước đó nên căn cứ vào quy định tại Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn ông D số tiền tạm ứng đã nộp trước đó là 8.000.000đ (Tám triệu) đồng.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà H phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 95; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 227; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 500, 502, 503 của Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 100, 188, 202, 203 của Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Huy D và bà Trần Thị T.

Buộc bà Điểu Thị H có nghĩa vụ trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 626,4m² (kết quả đo đạc thực tế), đất tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đất có vị trí: Phía đông giáp đất bà H; phía tay giáp đất của ông D; phía nam giáp đất ông H1; phía bắc giáp đường thôn (có sơ đồ bản vẽ mảnh trích đo địa chính số ĐƠ-952-2023 ngày 14/12/2023 giải quyết vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Phùng Huy D với bị đơn bà Điểu Thị H kèm theo) cùng tài sản trên đất gồm: 120 cây lồng mức trồng 20 năm tuổi; 01 cây xoài 35 năm tuổi (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Điểu Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho các nguyên đơn ông D, bà T số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã nộp trước đó là 8.000.000đ (Tám triệu) đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Điểu Thị H phải có nghĩa vụ nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước;

Nguyên đơn ông Phùng Huy D và bà Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho ông D, bà T số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006422 ngày 28 tháng 02 năm 2023.

4. Án xử sơ thẩm nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS H. Bù Gia Mập;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ TUYẾT

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 13/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger