|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2023/KDTM-ST
Ngày: 22 - 8 - 2023
Về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm – Bà Phan Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Tú - Chức vụ : Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2023/TLST- KDTM ngày 11 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng, thế chấp theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-KDTM ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QÐST – KDTM ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T; Trụ sở: số 108, V, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Trần M – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị H – chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng T - Chi nhánh Vinh. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Đình V, sinh năm 1996; Nơi ĐKNKTT: khối 5, phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 năm 2023, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP T (VietinBank) và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh thành phố Vinh (nay là Chi nhánh Vinh) đã cho ông Trần Đình V vay vốn theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2019-HĐCVHM/NHCT442-VIETANH ngày 17/10/2019 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 17/10/2019, cụ thể: Số tiền cho vay: 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng); Mục đích sử dụng vốn vay: Vay vốn lưu động sản xuất kinh doanh khung cửa nhôm kính các loại; Thời hạn vay: 12 tháng, từ ngày 17/10/2019 đến ngày 17/10/2020; Kỳ hạn trả nợ: Trả lãi vào ngày 03 hàng tháng và trả gốc khi hết thời hạn vay ngày 17/10/2020; Lãi suất cho vay: 10%/năm và được điều chỉnh một tháng một lần, mức điều chỉnh lãi suất được xác định lãi suất ngày và bằng tổng của lãi suất cơ sở công (+) biên độ tối thiểu 3,5%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn; Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 413,8 m² của ông Trần Đình V tại thôn H (nay là thôn T), xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 295558, số vào sổ cấp GCN: CH 00847/ số 1199 QĐ-UBND do UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 25/4/2017 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01-2017/HĐTC ngày 29/9/2017 và các Biên bản định giá và định giá lại tài sản bảo đảm được ký kết giữa Ngân hàng TMCP T – Chi nhánh thành phố Vinh với ông Trần Đình V.
Và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đình V đã không thanh toán được nợ gốc và lãi vay theo đúng cam kết tại hợp đồng tín dụng đã ký, số tiền vay trên đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 03/7/2020. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và gửi bằng văn bản yêu cầu ông Trần Đình V thanh toán khoản nợ vay đã quá hạn nhưng đến nay ông Trần Đình V không trả được nợ và cũng không bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Tổng dư nợ cho vay đến ngày 22/8/2023 là: 543.143.583 đồng (Năm trăm bốn mươi ba triệu, một trăm bốn mươi ba nghìn, năm trăm tám mươi ba đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc: 369.994.657 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 119.992.046 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 53.156.880 đồng.
Nay, Ngân hàng TMCP T khởi kiện yêu cầu:
- Yêu cầu ông Trần Đình V trả nợ đầy đủ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP T đến ngày 22/8/2023 là: 543.143.583 đồng (Năm trăm bốn mươi ba triệu, một trăm bốn mươi ba nghìn, năm trăm tám mươi ba đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc: 369.994.657 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 119.992.046 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 53.156.880 đồng.
- Yêu cầu ông Trần Đình V tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Trong trường hợp ông Trần Đình V không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP T đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 413,8 m² của ông Trần Đình V tại thôn H (nay là thôn T), xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 295558, số vào sổ cấp GCN: CH 00847/ số 1199 QĐ-UBND do UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 25/4/2017 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01-2017/HĐTC ngày 29/9/2017 và các Biên bản định giá và định giá lại tài sản bảo đảm được ký kết giữa Ngân hàng TMCP T – Chi nhánh thành phố Vinh với ông Trần Đình V.
Bị đơn là ông Trần Đình V vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Trần Đình V nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không thể lấy ý kiến và xem xét đến nguyện vọng của ông Anh được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án:
Về phần thủ tục tố tụng: Về thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập đầy đủ chứng cứ. Tại phiên toà hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tống đạt các văn bản cho các đương sự tham tố tụng thực hiện đúng quy định bảo đảm quyền lợi nghĩa vụ của họ. Thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình V không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng đến nay ông Anh vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông Trần Đình V là có căn cứ và đúng theo quy định của Pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 147, 220, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 4 Luật thương mại; Các điều 299, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Các điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 147, 220, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 4 Luật thương mại; Các điều 299, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Các điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T (VietinBank)
- Buộc ông Trần Đình V phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP T toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng cho vay hạn mức số 01/2019-HĐCVHM/NHCT442-VIET ANH ngày 17/10/2019 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 17/10/2019 đã ký kết là 543.143.583 đồng (Năm trăm bốn mươi ba triệu, một trăm bốn mươi ba nghìn, năm trăm tám mươi ba đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc: 369.994.657 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 119.992.046 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 53.156.880 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 23/8/2023) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp ông Trần Đình V không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP T đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 413,8 m² của ông Trần Đình V tại thôn H (nay là thôn T), xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 295558, số vào sổ cấp GCN: CH 00847/ số 1199 QĐ-UBND do UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 25/4/2017 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01-2017/HĐTC ngày 29/9/2017 và các Biên bản định giá và định giá lại tài sản bảo đảm được ký kết giữa Ngân hàng TMCP T – Chi nhánh thành phố Vinh với ông Trần Đình V. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng công chứng số 2 thuộc Sơ Tư Pháp tỉnh Hà Tĩnh và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
-
Về án phí: Buộc Ông Trần Đình V phải chịu 25.725.743 đồng (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn, bảy trăm bốn mươi ba đồng) án phí KDTM-ST.
Trả lại cho Ngân hành TMCP T 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo BL số 0001593 ngày 05/5/2023.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hoa |
Bản án số 13/2023/KDTM-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp
- Số bản án: 13/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng T khởi kiện ông V phải trả nợ ngân hàng và xử lý tài sản thế chấp
