|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Sương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tám
Bà Võ Thị Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hướng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang T, sinh ngày 28/12/1987 tại huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ bà Phan Thị N1, có 02 con sinh năm 2012 và sinh năm 2016; tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 19/9/2021, Nguyễn Quang T đã bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 55/2021/HSST. Chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 19/3/2023.
Bị cáo bị bắt ngày 15 tháng 01 năm 2024, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Trương Thị Thiên L, sinh năm 1992; nơi đăng ký HKTT: tổ dân phố D, thị trấn K, huyện P, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Viên Quang H, sinh năm 1963. Địa chỉ: thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
- Bà Phan Thị N1, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1956. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Ông Nguyễn Thanh N2, sinh năm 1974. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Ông Nguyễn Minh V, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Lệ T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 15/01/2024, Nguyễn Quang T điều khiển xe mô tô biển số 92N4-9234 chở theo vợ là Phan Thị N1 đi từ nhà đến chợ Đ thuộc xã Q, huyện Q để đi chợ. Khi đến chợ Đ, N1 đi vào chợ còn T đứng đợi bên ngoài. Một lúc sau, do không thấy N1 đi ra nên T xuống xe đi vào xung quanh chợ để tìm N1. Lúc này, chị Trương Thị Thiên L điều khiển xe mô tô biển số 92P1-104.79 đến chợ Đ để đi chợ. Chị L để xe ở bên hông chợ rồi đi vào chợ (chị L quên không khóa cốp xe); trong cốp xe của chị L có một túi xách da màu nâu bên trong có 01 cái đồng hồ đeo tay màu vàng, 03 thỏi son môi và số tiền 10.200.000 đồng. Thôi đi ngang qua và nhìn thấy bên trong cốp xe của chị L có một túi xách nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi xách này. Thôi quay lại vị trí để xe mô tô của mình rồi điều khiển xe ra trước chợ, T gặp N1 và bảo N1 đưa 10.000 đồng để mua thuốc lá. Sau đó T đi bộ lại vị trí xe của chị L, mở cốp xe lên rồi lấy trộm túi xách màu nâu này. Sau khi trộm được túi xách, T đi lại vị trí để xe của mình thì thấy chị N1, T đưa túi xách cho chị N1 và nói đây là túi xách do T nhặt được rồi điều khiển xe chở N1 về nhà. Trên đường về, N1 có nói T đến cơ quan Công an để giao nộp túi xách nhưng T nói về đi dặm lúa rồi giao nộp cho Cơ quan Công an sau. Khi về đến nhà, T đem túi xách vào phòng ngủ mở ra kiểm tra, khi mở ngăn thứ nhất Thôi thấy bên trong có một cái đồng hồ đeo tay màu vàng, một thỏi son môi và 200.000 đồng, T mở ngăn thứ hai thì thấy bên trong có hai cộc tiền, một cộc tiền được gói trong giấy vở học sinh và một cộc tiền lẻ với nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau từ 500.000 đồng đến 1.000 đồng và hai thỏi son môi. Thôi đếm số tiền chẳn được 1.700.000 đồng, số tiền lẻ và cộc tiền gói trong giấy vở học sinh Thôi đưa cho N1 đếm nhưng lúc đó T và N1 cãi nhau, T bỏ đi dặm lúa; N1 bỏ hết tiền và các vật dụng vào lại túi xách rồi đem cất vào thùng quần áo của gia đình rồi đi ra đồng dặm lúa.
Sau khi phát hiện tài sản bị mất, chị Trương Thị Thiên L đã làm đơn báo cáo đến Công an xã Q về việc chị bị mất tài sản gồm: 01 túi xách da màu nâu bên trong có 01 cái đồng hồ đeo tay màu vàng, 03 thỏi son môi và số tiền 10.200.000 đồng.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, cơ quan Công an đến mời Thôi lên làm việc. Qua làm việc, T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và chị Phan Thị N1 đã tự nguyện giao nộp lại số tài sản mà T đã trộm cắp gồm: 01 túi xách da màu nâu, 01 cái đồng hồ đeo tay màu vàng, 03 thỏi son môi và số tiền 4.742.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Quartz - Halei, 03 thỏi son, 01 túi xách màu nâu mà T đã trộm cắp có giá trị là 100.000 đồng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- - 01 (một) cái áo khoát màu đen; 01 (một) cái quần dài màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái mũ lưỡi trai màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái quần dài màu đỏ nền màu hồng; 01 (một) cái áo ấm màu xanh da trời có chữ NSWISS ở bên trái phía trước; 01 (một) xe mô tô hiệu DAEHAN, màu trắng đen biển số 92N4-9234; 01 (một) cái đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Halei; 03 (ba) thỏi son môi; 01 (một) túi xách da màu nâu có dây đeo; số tiền 4.742.000 đồng.
Phần dân sự: Chị Trương Thị Thiên L yêu cầu Nguyễn Quang T bồi thường số tiền 10.200.000 đồng. Đến nay, Nguyễn Quang T tác động gia đình bồi thường số tiền 1.000.000 đồng.
Cáo trạng số 08/CT-VKSQS ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Trả lại cho bị hại Trương Thị Thiên L 01 (một) cái đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Halei; 03 (ba) thỏi son môi; 01 (một) túi xách da màu nâu có dây đeo; số tiền 4.742.000 đồng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc xe môtô biển kiểm soát 92N4-9234.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái áo khoát màu đen; 01 (một) cái quần dài màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái mũ lưỡi trai màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái quần dài màu đỏ nền màu hồng; 01 (một) cái áo ấm màu xanh da trời có chữ NSWISS ở bên trái phía trước.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và không tham gia tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được: Khoảng 09 giờ ngày 15/01/2024, tại khu vực chợ Đ thuộc xã Q, huyện Q; bị cáo Nguyễn Quang T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 01 túi xách da màu nâu, 01 cái đồng hồ đeo tay màu vàng, 03 thỏi son môi và số tiền 10.200.000 đồng của bị hại Trương Thị Thiên L.
Bị cáo Nguyễn Quang T khai nhận đã lén lút trộm cắp của bị hại Lý những tài sản gồm 01 túi xách da màu nâu, 01 cái đồng hồ đeo tay màu vàng, 03 thỏi son môi và một số tiền đựng trong túi xách, tại cơ quan công an xã Q đếm được 4.742.000 đồng. Các cơ quan tiến hành tố tụng quy buộc bị cáo lấy 10.200.000 đồng của bị hại Trương Thị Thiên L thì bị cáo đồng ý, số tiền 5.458.000 đồng còn lại rơi ở đâu bị cáo không biết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Quartz - Halei, 03 thỏi son, 01 túi xách màu nâu mà T đã trộm cắp có giá trị là 100.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã chiếm đoạt của bị hại có giá trị là 10.300.000 (Mười triệu ba trăm nghìn) đồng. Lời khai của bị cáo đối chiếu với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử kết luận: hành vi trên của bị cáo Nguyễn Quang T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T là cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vì vậy cần áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nghiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nghiệm hình sự: Ngày 19/9/2021, bị cáo Nguyễn Quang T bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 55/2021/HSST. Chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 19/3/2023. Tính đến ngày 15/01/2024, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nghiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo có mẹ Nguyễn Thị N tham gia cách mạng được chính quyền đại phương xác nhận, bị cáo đã tác động gia đinh bồi thường một phần thiệt hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã trộm của bị hại 10.200.000 đồng tiền mặt, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ số tiền 4.742.000 đồng nên Hội đồng xét xử cần trả cho bị hại L số tiền số tiền 4.742.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo T và bị hại Lý thỏa thuận thống nhất bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại L số tiền còn lại là 4.458.000 đồng, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.
[2.5]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) túi xách da màu nâu, 01 (một) cái đồng hồ đeo tay màu vàng, 03 (ba) thỏi son môi là tài sản của bị hại L nên trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- - Đối với 01 (một) cái áo khoát màu đen; 01 (một) cái quần dài màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái mũ lưỡi trai màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái quần dài màu đỏ nền màu hồng; 01 (một) cái áo ấm màu xanh da trời có chữ NSWISS ở bên trái phía trước là tài sản của bị cáo T và của chị N1, tại phiên tòa bị cáo và chị N1 không nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu DAEHAN, màu trắng đen biển số 92N4-9234, xe này do ông Viên Quang H, trú tại thôn P, xã D, huyện D đứng tên chủ sở hữu. Năm 2008, ông H đi làm thợ xây dựng tại công trình gần chợ H1, quận L, thành phố Đà Nẵng thì bị mất (bao gồm cả giấy tờ xe) nhưng ông không trình báo cơ quan Công an nay ông không có nguyện vọng xin nhận lại xe. Bị cáo Nguyễn Quang T trình bày năm 2010, bị cáo đã mua xe này tại một tiệm mua bán xe cũ gần chợ H1, quận L, thành phố Đà Nẵng, lúc mua có giấy tờ nhưng đến nay đã mất nên chưa sang tên được. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe này do ông Viên Quang H do ông đứng tên chủ sở hữu, ông H khai bị mất năm 2008, tuy nhiên ông H không chứng minh được xe bị mất trộm, hiện nay ông H không có nhu cầu nhận lại. Bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên cần giao xe mô tô hiệu DAEHAN, màu trắng đen biển kiêm soát 92N4-9234, số máy VDMD1000008949, số khung VDMLCG013DM005449 cho Công an huyện Q quản lý để tiến hành xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.
[2.6]. Những vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với Phan Thị N1: thời điểm bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chị N1 không biết, khi phát hiện tài sản là do bị cáo T trộm cắp mà có, chị N1 đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an nên không có căn cứ để xử lý.
[2.7]. Về án phí: bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 và Điều 38; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 15/01/2024.
2. Trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Quang T có nghĩa vụ bồi thường cho chị Trương Thị Thiên L số tiền 4.458.000 (Bốn triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và chị Trương Thị Thiên L có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo T không trả khoản tiền trên thì phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho chị Trương Thị Thiên L số tiền 4.742.000 (Bốn triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn) đồng, 01 (một) túi xách da màu nâu, 01 (một) cái đồng hồ đeo tay màu vàng, 03 (ba) thỏi son môi.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái áo khoát màu đen; 01 (một) cái quần dài màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái mũ lưỡi trai màu đen có chữ Adidas; 01 (một) cái quần dài màu đỏ nền màu hồng; 01 (một) cái áo ấm màu xanh da trời có chữ NSWISS ở bên trái phía trước.
- - Giao xe mô tô hiệu DAEHAN, màu trắng đen biển kiêm soát 92N4-9234, số máy VDMD1000008949, số khung VDMLCG013DM005449 cho Công an huyện Q quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2024)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Sương |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ăn trộm
