TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/KDTM-ST Ngày: 21/6/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ
Ông Lê Anh Giàu
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Diễm Thúy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre
Vào ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2023/TLST- KDTM ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXX ST - KDTM ngày 25 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 45 ngày 23/02/2024, các thông báo dời ngày xét xử giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V
Địa chỉ: H đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hoàng Xuân H – CV xử lý nợ KHDN miền N (có mặt)
* Bị đơn: Công ty TNHH MTV T
Địa chỉ: B N, ấp P, xã P, thành phố B
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trung D1 - Chức vụ: Giám đốc; (vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Trung D1 (vắng mặt)
Nơi cư trú: G L, Phường E thành phố M, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, B tự khai, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V tham gia tố tụng là ông Nguyễn Hoàng Xuân H trình bày:
Công ty TNHH Một thành viên T đã vay vốn tại V1 – Chi nhánh T1 theo hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/23048 ngày 18 tháng 04 năm 2023, hạn mức cho vay: 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, cụ thể như sau:
- Khế ước nhận nợ: Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ và Ủy nhiệm chi lần 01/số: ETG/23048/KU/Lan01 ngày 18/04/2023. Số tiền vay: 1.400.000.000 đồng. Thời hạn: 06 tháng. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là: 21,40%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần theo quy định từng thời kỳ. Ngày giải ngân, ngày đến hạn: 18/4/2023 – 18/10/2023. Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh buôn bán xi măng.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, V1 và các bên đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm sau tiền vay là: Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Trần Trung D1 theo hợp đồng bảo lãnh số: ETG/23048/BLCN ngày 18 tháng 04 năm 2023 giữa V1, ông Trần Trung D1 và Công ty TNHH Một thành viên T.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH Một thành viên T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay của Công ty TNHH Một thành viên T chuyển nợ quá hạn và chịu mức lãi suất quá hạn.
Tạm tính đến hết ngày 21/6/2024, Công ty TNHH Một thành viên T còn nợ V1 các khoản sau: Nợ gốc: 1.400.000.000 đồng, nợ lãi trên nợ gốc trong hạn: 148.629.862đồng (Nợ lãi trên nợ gốc trong hạn là 149.604.384 đồng nhưng Ngân hàng trừ ra số tiền đã trích thu trong tài khoản của Công ty T là 974.522đồng), nợ lãi trên nợ gốc quá hạn: 298.430.137 đồng, phạt chậm trả lãi: 10.057.966 đồng. Tổng cộng: 1.857.117.965 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười bảy ngàn chín trăm sáu mươi lăm đồng)
Nay yêu cầu Tòa xem xét và phán quyết buộc:
- Buộc Công ty TNHH Một thành viên T phải trả ngay một lần cho V1 tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 21/6/2024 là: Nợ gốc: 1.400.000.000 đồng, nợ lãi trên nợ gốc trong hạn: 148.629.862đồng, nợ lãi trên nợ gốc quá hạn: 298.430.137 đồng, phạt chậm trả lãi: 10.057.966 đồng. Tổng cộng: 1.857.117.965 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười bảy ngàn chín trăm sáu mươi lăm đồng). Ngoài ra, kể từ ngày 22/6/2024, Công ty TNHH Một thành viên T vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1.
- Trường hợp Công ty TNHH Một thành viên T không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, ông Trần Trung D1 liên đới thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời ông Trần Trung D1 với vai trò là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV T và với vai trò người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến để tiến hành hòa giải nhưng ông D1 vắng mặt không lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: ngày 12/9/2023 Ngân hàng thương mại cổ phần V (Ngân hàng V1) có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV T (Công ty T) trả số tiền vay tính đến ngày 21/6/2024 là 1.857.117.965 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười bảy ngàn chín trăm sáu mươi lăm đồng) theo hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/23048 ngày 18/4/2023. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Công ty T có trụ sở tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Đại diện theo pháp luật của Công ty T là ông Trần Trung D1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Trung D1 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D1 vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời ông cũng không có người đại diện nên không thể tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được, Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông vẫn không có mặt để tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với Công ty T và ông D1.
- Về nội dung vụ án: ngày 12/9/2023 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh T1 (Ngân hàng V1) có cho Công ty TNHH MTV T (Công ty T) vay số tiền theo hạn mức là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán xi măng. Theo hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/23048 ngày 18/4/2023. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay Công ty T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay của Công ty T chuyển nợ quá hạn và chịu mức lãi suất quá hạn. Tạm tính đến hết ngày 21/6/2024, Công ty TNHH Một thành viên T còn nợ V1 các khoản sau: Nợ gốc: 1.400.000.000 đồng, nợ lãi trên nợ gốc trong hạn: 148.629.862đồng (Nợ lãi trên nợ gốc trong hạn là 149.604.384 đồng nhưng Ngân hàng trừ ra số tiền đã trích thu trong tài khoản của Công ty T là 974.522đồng), nợ lãi trên nợ gốc quá hạn: 298.430.137 đồng, phạt chậm trả lãi:10.057.966 đồng. Tổng cộng: 1.857.117.965 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười bảy ngàn chín trăm sáu mươi lăm đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu Công ty T phải thanh toán cho Ngân hàng V1 khoản nợ trên, đồng thời yêu cầu tính lãi tiếp tục từ ngày 22/6/2024 cho đến khi Công ty T trả tất nợ cho Ngân hàng V1. Trường hợp, Công ty T không trả được nợ nêu trên thì Ngân hàng V1 yêu cầu ông Trần Trung D1 hiện nghĩa vụ trả nợ thay theo hợp đồng bảo lãnh. Tại khoản 1, Điều 2 Hợp đồng bảo lãnh số ETG/23048/BLCN ngày 18/4/2023 thể hiện: "Bằng toàn bộ tài sản, uy tín và trách nhiệm của mình, Bên bảo lãnh cam kết và đồng ý bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang cho bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai, bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt,các khoản bồi thường thiệt hại, các khoản phải hoàn trả và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo lãnh đối với bên ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng...”. Hợp đồng bảo lãnh đã thể hiện việc bảo lãnh là vô điều kiện và không được hủy ngang. Điều này chứng tỏ ông D1 không những phải chịu trách nhiệm với tư cách là đại diện theo pháp luật - chủ sở hữu Công ty T nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bảo lãnh theo Hợp đồng bảo lãnh. Vì vậy nếu Công ty T không trả thì ông D1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng khoản nợ trên. Đồng thời ông D1 có quyền yêu cầu Công ty T phải thanh toán phần nghĩa vụ bảo lãnh cho lại cho mình. Do đó yêu cầu của Ngân hàng V1 là phù hợp nên được chấp nhận.
- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V được chấp nhận nên án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch Công ty T phải chịu là 67.713.538 đồng (Sáu mươi bảy triệu bảy trăm mười ba ngàn năm trăm ba mươi tám đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 351, 352; 335; 336; 338; 340; 342; 463; 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ các Điều 30, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cụ thể tuyên:
- Về án phí:
Buộc Công ty TNHH MTV T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V (Do Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh T1 nhận thay) số tiền tổng cộng là 1.857.117.965 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười bảy ngàn chín trăm sáu mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc: 1.400.000.000 đồng, nợ lãi trên nợ gốc trong hạn: 148.629.862đồng, nợ lãi trên nợ gốc quá hạn: 298.430.137 đồng, phạt chậm trả lãi: 10.057.966 đồng.
Công ty TNHH MTV T còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/23048 ngày 18/4/2023ký giữa Ngân hàng TMCP V và Công ty TNHH MTV T từ ngày 22/6/2024 cho đến khi Công ty TNHH MTV T trả tất nợ cho Ngân hàng TMCP V.
Trường hợp, Công ty TNHH MTV T không trả được nợ nêu trên thì ông Trần Trung D1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh số hợp đồng bảo lãnh số ETG/23048/BLCN ngày 18/4/2023.
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là 67.713.538 đồng (Sáu mươi bảy triệu bảy trăm mười ba ngàn năm trăm ba mươi tám đồng) Công ty TNHH MTV T phải nộp.
Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí là 28.854.000đồng (Hai mươi tám triệu tám trăm năm mươi bốn ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000808 ngày 17/11/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phong |
Bản án số 13/2024/KDTM-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu nca62u của ngân hàng A
