Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - X

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - X

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhiên.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đại và Ông Lê Xuân Thuật
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thuận - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân khu vực 2.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - X tham gia phiên tòa: Ông Vương Quang Thắng và bà Đặng Thị Thùy T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - X xét xử trực tiếp, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 8/QĐST – HPT ngày 26 tháng 9 năm 2025, đối với:

1. Các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị T1; sinh năm: 1971; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh X (nay là tổ dân phố H, phường T, tỉnh X); Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Đỗ Thị T2 (đã chết); chồng Vũ Văn T3, sinh năm 1971; Con: có 03 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1998; (Nguyễn Thị T1 hiện bị ung thư đại tràng)

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 23/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh X xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/5/2025 tại UBND xã H (nay là UBND phường T). (Có mặt)

  2. Vũ Văn T3, sinh năm: 1971; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh X (nay là tổ dân phố H, phường T, tỉnh X); Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Vũ Văn C (đã chết);(Ông C được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba) và bà Bùi Thị V, sinh năm 1939; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971; Con: có 03 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1998. (Vũ Văn T3 hiện đang bị mắc các bệnh: động kinh; bệnh ấu trùng sán lợn ở hệ thần kinh trung ương)

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 28/4/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh X xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. (Có mặt)

2. Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Văn K, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh X; (Vắng mặt)

  2. Anh Vũ Văn T4, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh X. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T1 và Vũ Văn T3, có quan hệ vợ chồng và đều trú tại thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh X (nay là tổ dân phố H, phường T, tỉnh X). Đầu năm 2024, thông qua mạng xã hội Zalo, T1 có biết một tài khoản Zalo đăng bán giấy khám sức khỏe giả nên T1 đã liên hệ với tài khoản Zalo này đặt mua 4 lần với tổng số 40 tờ giấy khám sức khỏe giả của bệnh viện B với giá 85.000 đồng/ tờ, mục đích bán lại để kiếm lời. Sau khi đặt mua, các giấy khám sức khỏe giả đều được một nam thanh niên điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) giao đến cổng công ty TNHH Đ ở thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh X (nay là thôn L, xã Y, tỉnh X) là nơi T1 đang làm công nhân. T1 đều nhận hàng trực tiếp và trả bằng tiền mặt cho người này, đem toàn bộ giấy khám sức khỏe giả đã mua về nhà rồi thống nhất với chồng là Vũ Văn T3 sẽ bán giấy khám sức khỏe giả với giá 150.000 đồng/ tờ cho những người có nhu cầu cần giấy khám sức khỏe mà không muốn đến bệnh viện khám. Trong thời gian trên, T1 và T3 đã bán được tổng số 38 giấy khám sức khỏe giả cho những người có nhu cầu đến mua, thu lời bất chính số tiền 2.470.000 đồng.

Đến khoảng 11 giờ ngày 26/12/2024, tại nhà của mình, Vũ Văn T3 đang thực hiện hành vi bán cho đối tượng tự khai tên Bùi Văn C1, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố S, phường M, thị xã M, tỉnh X 01 tờ giấy khám sức khỏe ghi của bệnh viện B với giá 150.000 đồng thì bị Công an xã H kiểm tra phát hiện lập biên bản và thu giữ: Tại tay trái của C1 thu 01 tờ giấy khám sức khỏe ghi của bệnh viện B (ký hiệu A1); tại tay phải của T3 thu 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Sau đó, Vũ Văn T3 tự nguyện giao nộp thêm 01 tờ giấy khám sức khỏe ghi của Bệnh viện B, T3 cất giấu mục địch sẽ bán khi có người hỏi mua (ký hiệu A2).

Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn T3 và Nguyễn Thị T1, không phát hiện, thu giữ gì. T1 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A25 màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại, là điện thoại T1 sử dụng để liên lạc mua giấy tờ khám sức khỏe, niêm phong ký hiệu T1.

Quá trình điều tra: Sau khi nhận được yêu cầu của Cơ quan điều tra, tại công văn số 1028/BM – KHTH ngày 05/3/2025, bệnh viện B xác định: Tại bệnh viện B không có ai tên là Nguyễn Thị H giữ chức vụ Chánh văn phòng của bệnh viện; không cung cấp 02 mẫu giấy khám sức khỏe theo mẫu đính kèm tại công văn 124/CV-ĐTTH Của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M; tại bệnh viện có 02 cán bộ trùng họ tên là: TS.BS Nguyễn Thị Bích N – Trưởng khoa khám bệnh và BSCKII. Nguyễn Bá T5 – Phó trưởng khoa Mắt. Đồng thời, bệnh viện B cung cấp: mẫu chữ ký và dấu chức danh của TSBS. Nguyễn Thị Bích N (ký hiệu M1); mẫu chữ ký và dấu chức danh của BSCKII. Nguyễn Bá T5 (ký hiệu M2); mẫu dấu tròn tại bệnh viện B (ký hiệu M3).

Tại bản kết luận giám định số 87/KL-KTHS ngày 27/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Không đủ cơ sở để kết luận các chữ ký đứng tên TS.BS. Nguyễn Thị Bích N dưới mục “NGƯỜI KẾT LUẬN” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký của bà Nguyễn Thị Bích N trên mẫu so sánh ký hiệu M1 có phải do cùng một người ký ra hay không; không đủ cơ sở kết luận các chữ ký đứng tên SBCk II. Nguyễn Bá T5 trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với các chữ ký của ông Nguyễn Bá T5 trên mẫu so sánh ký hiệu M2 có phải do cùng một người ký ra hay không; các hình dấu tròn màu đỏ, ở viền ngoài dấu có chữ in hoa “BỘ Y TẾ” bằng mực màu đỏ, giữa dấu có chữ in hoa “BỆNH VIỆN BẠCH MAI” được đóng trên các tờ giấy khám sức khỏe gửi giám định ký hiệu A1, A2 với các hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung, chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị H - Chánh văn phòng bệnh viện B, trên mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra. Hoàn lại toàn bộ các tài liệu cần giám định và mẫu so sánh.

Về vật chứng của vụ án: đối với 02 tờ giấy khám sức khỏe ghi của bệnh viện B, ký hiệu A1 và A2 là tài liệu điều tra nên được lưu trong hồ sơ vụ án từ bút lục số 106 đến 109; đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A5 trong niêm phong ký hiệu T1 hiện đang được lưu trữ tại kho vật chứng Công an tỉnh H; số tiền 200.000 đồng đang được gửi tại tài khoản tạm gửi của Công an tỉnh H.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSKV2 ngày 04/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - X đã truy tố: Các bị cáo Nguyễn Thị T1 và Vũ Văn T3 về tội: Sử dụng con dấu, tài liệu giả quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và đều xin được cải tạo tại địa phương để có cơ hội chữa bệnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – X giữ nguyên quyết định đã truy tố, sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX:

  • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T1 và Vũ Văn T3 phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
  • - Về căn cứ áp dụng pháp luật: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo T1, T3; Áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T1; áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với bị cáo T3.
  • - Về hình phạt:

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn T3 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Văn T3 cho UBND xã T, tỉnh X giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  • - Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu lưu trữ tại hồ sơ vụ án: 02 tờ giấy khám sức khỏe ghi của bệnh viện B, ký hiệu A1 và A2;

Tịch thu phát mại nộp Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A5 trong niêm phong ký hiệu T1;

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn có quan điểm về án phí.

Các bị cáo đều không tranh luận gì, tại lời nói sau cùng các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T3 xin được cải tạo tại địa phương để có thời gian điều trị bệnh tật và chăm lo gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra thị xã M cũ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - X (Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào cũ); Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Các bị cáo và Đại diện Viện kiểm sát Khu vực 2 - X đều đề nghị tiếp tục xét xử vắng mặt người làm chứng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, tại hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng tới việc xét xử các bị cáo. Vì vậy, căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với kết luận giám định số 87/KL-KTHS ngày 27/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong năm 2024, Nguyễn Thị T1 và Vũ Văn T3 đã cùng nhau thực hiện hành vi đặt mua 40 tờ giấy khám sức khỏe giả của bệnh viện B - Hà Nội trên mạng xã hội zalo mang về nhà của T1 và T3 ở tổ dân phố H, phường T, tỉnh X rồi nhiều lần đem bán cho những người đến mua với giá 150.000 đồng/tờ, thu lời bất chính số tiền 2.470.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ ngày 26/12/2024, cũng tại nhà của mình ở tổ dân phố H, phường T, tỉnh X, Vũ Văn T3 đang thực hiện hành vi bán 01 tờ giấy cho đối tượng tự khai tên là Bùi Văn C1 thì bị Công an xã H kiểm tra phát hiện lập biên bản. Ngoài ra, còn thu giữ 01 tờ giấy khám sức khỏe giả khác của bệnh viện B mà T3 và T1 cất giấu để bán cho người khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và số lượng tài liệu giả đã sử dụng nêu trên của các bị cáo đã cấu thành tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – X truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật trên là có cơ sở và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ nhận thức, hiểu biết pháp luật, nhưng do mục đích tư lợi của bản thân đã thực hiện hành vi sử dụng giấy tờ giả để bán kiếm lời, hành vi của các bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức, coi thường pháp luật, vì vậy cần phải xét xử và xử phạt bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn Trong vụ án này, bị cáo T1 là người khởi xướng và trực tiếp mua giấy khám sức khỏe giả về đem bán nên có vai trò đầu, còn bị cáo T3 là người thực hành cùng bị cáo T1 bán giấy khám sức khoẻ giả với vai trò ít tích cực.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo T3 có bố đẻ, bị cáo T1 có bố chồng được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba, các bị cáo đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T3 có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo T1 và T3 đều có nhân thân xấu, đều bị xử phạt về hành vi Đánh bạc.

[5] Về hình phạt:

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, nhân thân và vai trò của mỗi bị cáo trong vụ án, cần phải áp dụng mức án nghiêm khắc, tương xứng đối với hành vi của từng bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo Nguyễn Thị T1 ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đối với bị cáo Vũ Văn T3 ngày 28/4/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh X xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, đến thời điểm phạm tội mới bị cáo đã được coi là không có án tích, bị cáo tham gia với vai trò thực hành ít tích cực, có nơi cư trú rõ ràng, và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hiện bị cáo đang bị bệnh động kinh và bệnh ấu trùng sán lợn ở hệ thần kinh trung ương và có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền xác nhận nên Hội đồng xét xử, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 03/2025/VBHN - TANDTC ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân Tối cao cho bị cáo được hưởng án treo, cũng đủ răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung và để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều lao động tự do, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 02 tờ giấy khám sức khỏe ghi của bệnh viện B, ký hiệu A1 và A2 là công cụ phạm tội nên cần tịch thu lưu trữ tại hồ sơ vụ án:

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A5 trong niêm phong ký hiệu T1 do bị cáo nộp, bị cáo sử dụng điện thoại để liên hệ mua tài liệu giả nên là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu phát mại nộp Ngân sách nhà nước

Số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của bị cáo là tiền bị cáo bán tài liệu giả cho anh C1 nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 2.470.000 đồng là tiền bị cáo bán Giấy khám sức khoẻ giả mà có nên là khoản tiền thu lợi bất chính cần truy thu của các bị cáo nộp Ngân sách nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng đã bán giấy khám sức khỏe giả cho T1, quá trình điều tra không có thông tin cụ thể nào về đối tượng này nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với đối tượng tự khai tên Bùi Văn C1, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố S, phường M, thị xã M, tỉnh X, quá trình điều tra xác định tại phường M (nay là phường Đ, tỉnh X) không có người nào có thông tin và đặc điểm phù hợp nên sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[9] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị T1 và Vũ Văn T3 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T1;

    Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; Nghị quyết 03/2025/VBHN - TANDTC ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân Tối cao đối với bị cáo Vũ Văn T3;

  2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T1 và Vũ Văn T3, phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

  3. Về hình phạt:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T1 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án;

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T3 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (Bốn) năm, thời điểm thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo T3 cho UBND phường T, tỉnh X theo dõi, giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án và thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

    • Tịch thu lưu trữ tại hồ sơ vụ án: 02 tờ giấy khám sức khỏe ghi của bệnh viện B, ký hiệu A1 và A2;
    • Tịch thu phát mại nộp Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A5 trong niêm phong ký hiệu T1;
    • Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo.
    • Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 2.470.000 đồng (Hai triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) của các bị cáo T1 và T3 để nộp Ngân sách nhà nước
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với các bị cáo;

    Các bị cáo Nguyễn Thị T1 và Vũ Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm..

  6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Phan Thị Nhiên

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh;
  • - VKSND Khu vực 2 – X
  • - Công an tỉnh X
  • - THADS tỉnh X;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan
  • - UBND phường Thượng Hồng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - X về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - X
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA số 13.2025.HS ngày 30.9.2025 Nguyễn Thị Thái và Vũ Văn Thịnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger