Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 15-4-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
  • Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga
  • Ông Trịnh Xuân Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình: Bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 285/2024/TLST – HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Xa Thị Thu T, sinh năm 1993; địa chỉ: SN B, cầu T, tập thể B13, tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991; địa chỉ: SN B, cầu T, tập thể B13, tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Xa Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: tôi và anh Nguyễn Văn T1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình vào ngày 01/10/2019. Quá trình chung sống ngay từ thời điểm đầu giữa vợ chồng tôi đã có sự khác nhau về lối sống, quan điểm sống dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã cuộc sống không hòa hợp. Năm 2023 tôi đã nộp đơn ly hôn ra Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình nhưng vì thương con nên tôi đã rút đơn để vợ chồng có thể hàn gắn, đoàn tụ. Nhưng trong suốt thời gian qua chồng tôi không có sự thay đổi nào khác, cuộc sống hàng ngày đi vào bế tắc vì vợ chồng không còn giao tiếp với nhau, không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống cứ thế kéo dài khiến tôi bị stress. Nay nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục cuộc sống chung, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.

Về con chung: Vợ chồng tôi có một con chung là cháu Nguyễn Chi A, sinh ngày 19/4/2020. Sau khi ly hôn tôi muốn là người trực tiếp nuôi cháu Chi A và chưa đề nghị anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu tòa giải quyết.

2. Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2025 bị đơn anh Nguyễn Văn T1 trình bày:

Tôi và chị Xa Thị Thu T kết hôn ngày 01/10/2019 trên cơ sở tự nguyện và được UBND phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, sau này có phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ thường ngày, vợ chồng ít nói chuyện với nhau; lý do là do tôi ít quan tâm đến vợ thôi, nên vợ tôi muốn ly hôn. Có thời gian tôi cảm thấy vợ tôi bị trầm cảm vì vợ chồng ít giao tiếp. Năm 2023 vợ tôi cũng đã nộp đơn ly hôn nhưng sau đó lại rút đơn về, cuộc sống vợ chồng lại bình thường, nhưng cuộc sống sinh lý vợ chồng thì không tồn tại nữa. Nay vợ tôi nộp đơn xin ly hôn tôi lần hai tôi không đồng ý ly hôn vì vợ chồng vẫn còn tình cảm và có thể hàn gắn được.

Về con chung: Chúng tôi có một con chung là cháu Nguyễn Chi A, sinh ngày 19/4/2020. Nếu như tòa giải quyết cho vợ chồng tôi ly hôn thì tôi để cho chị T nuôi con và tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu tòa giải quyết.

3. Kết quả xác minh và ý kiến người làm chứng.

  • - Xác minh tại nơi cư trú của chị Xa Thị Thu T và anh Nguyễn Văn T1 tại tổ C, phường T, thành phố H được tổ trưởng tổ dân phố cung cấp: Chị T và anh T1 là cư dân của tổ A, phường T, quá trình sinh sống không thấy phản ánh gì về việc mâu thuẫn vợ chồng. Thời gian gần đây khi đến làm việc thì có thấy cuộc sống vợ chồng không được tình cảm.
  • - Bà Lê Thị Tuyết L mẹ đẻ chị T có ý kiến trình bày: Khi Thảo T2 kết hôn với nhau được một thời gian thì tôi có thấy con gái tôi tâm sự là vợ chồng ít nói chuyện với nhau, T đã nộp đơn một lần năm 2023 và rút đơn. Nhưng sau đó T và T2 vẫn không thể hòa hợp, T không còn muốn nhìn thấy T2 trong nhà, không muốn tiếp tục cuộc sống chung. T có nhiều biểu hiện bị trầm cảm. Giờ T muốn ly hôn với T2, tôi tôn trọng quyết định của hai con.
  • - Chị Bùi Hồng H công tác cùng chị T trình bày: Chị được chị T tâm sự nhiều về mâu thuẫn vợ chồng trong thời gian dài khiến chị T thấy mệt mỏi, gây ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống của T và con gái.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Xa Thị Thu T có mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định.

- Về nội dung: Hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp. Xét đến thời điểm T khởi kiện ly hôn mẫu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T, cho chị T được ly hôn anh T1.

- Về con chung: Giao cho chị Xa Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Chi A, sinh ngày 19/4/2020. Chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và công nợ chung: không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Xa Thị Thu T có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại: tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa chị Xa Thị Thu T có mặt, anh Nguyễn Văn T1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng tiến hành xét xử vụ án bị đơn theo quy định.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Xa Thị Thu T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn vào ngày 01/10/2019 tại UBND phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lý do mâu thuẫn theo phía nguyên đơn là vợ chồng khác nhau về lối sống và quan điểm sống, dẫn đến việc năm 2023 nguyên đơn chị T đã nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó vì thương con nên đã rút đơn, tòa án đã ra quyết định đình chỉ vụ án số 14/2023/QĐST- HNGĐ ngày 28/4/2023. Phía bị đơn cho rằng mâu thuẫn chỉ là nhỏ nhặt hàng ngày. Sau khi chị T rút đơn, cuộc sống vợ chồng vẫn không có nhiều thay đổi, bản thân bị đơn anh T1 thừa nhận ít giao tiếp với vợ, mặc dù mong muốn đoàn tụ nhưng thực tế anh T1 không cố gắng giao tiếp, không có những giải pháp hợp lý để khắc phục mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để đoàn tụ. Trong khi đó vì cuộc sống chung chị T có những biểu hiện của trầm cảm theo gia đình và bạn bè xác nhận. Đến nay chị T xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn anh T1, đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn anh giữa chị T và anh T1 đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị T ly hôn anh T1 theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

Về con chung: Chị T và anh T1 có một con chung là cháu Nguyễn Chi A, sinh ngày 19/4/2020. Xét theo nguyện vọng của các bên đương sự, sau khi ly hôn giao cháu Chi A cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng, chị T chưa yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu tòa giải quyết.

Về án phí: Chị Xa Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Xa Thị Thu T, xử cho chị Xa Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
  2. Về con chung: Giao cho chị Xa Thị Thu T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Chi A, sinh ngày 19/4/2020 cho đến khi cháu Chi A đủ 18 tuổi. Chị T chưa yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

    Anh Nguyễn Văn T1 có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Chị T, anh T1 có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Xa Thị Thu T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004260 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, chị T đã nộp xong án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Chi Cục THADS TPHB;
  • - Các đương sự;
  • - UBND p. Hữu Nghị;
  • - Lưu TH, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ - ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T - T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger