| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ-PT | |
| Ngày: 15 - 4 - 2025. | |
| Về việc: “Chia tài sản chung sau ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông.
Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên trung cấp, tham gia phiên tòa.
Ngày 15/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 56/2024/TLPT- HNGĐ ngày 27/11/2024 về việc: “Chia tài sản chung sau ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 36/2024/HNGĐ-ST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân huyện H, tỉnh Bắc Giang, bị kháng cáo.
Theo Quyết định dựa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2025/QĐ-PT ngày 24/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐ-PT ngày 24/2/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QĐ-PT ngày 24/3/2025; giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T (xã Đ cũ), huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Đ: Bà Nguyễn Thị L, ông Tạ Văn T - Đều là Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (Có mặt).
Địa chỉ: Tầng B, số D, ngõ I T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1982 (Có mặt).
HKTT: Tổ DP Trung Đồng, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện tại: Tổ D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1951 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
1
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Tổ D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Ông Đặng Mạnh C1, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, H, Bắc Giang. - Ông Chu Văn L1, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm A, Tổ D, thị trấn T, H, Bắc Giang. - Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1962 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm C, Tổ D, thị trấn T, H, Bắc Giang. - Ông Dương Văn Q, sinh năm 1969 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn D, xã D, H, Bắc Giang. - Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm B, Tổ D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. - Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang - Do ông Nguyễn Văn C3 - Phó phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện H (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Anh và chị Hoàng Thị C kết hôn năm 2000. Do mâu thuẫn không thể chung sống với nhau nên đã yêu cầu Tòa án giải quyết và đã được Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giải quyết cho ly hôn theo bản án dân sự số 47/2021/HNGĐ- ST ngày 21/8/2021, đồng thời giải quyết về con chung, tài sản chung và công nợ chung. Do bản án có kháng cáo, bản án phúc thẩm đã hủy phần về tài sản chung của vợ chồng. Sau đó Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã thụ lý và giải quyết lại vụ án đối với phần bản án bị hủy. Đến nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và công nợ chung như sau:
- Về tài sản chung: Anh và chị C có các tài sản chung:
Xe KIA (xe tải), biển kiểm soát số 98C-117.56 mua trả góp tại Bắc Giang năm 2016 với giá 370.000.000 đồng, trả trước 170.000.000 đồng, đến năm 2017 anh đã trả đầy đủ tiền và bán cho em trai là Nguyễn Văn M với giá 200.000.000 đồng để trả tiền xe mua trả góp qua ngân hàng của chiếc xe này.
Xe ô tô Vios, biển kiểm soát 98A-064.50 với giá 660.000.000 đồng, trả trước được 410.000.000 đồng, còn nợ lại là 250.000.000 đồng trả góp năm 2014 ở Thái
2
Nguyên, toàn bộ tiền mua xe là do anh lấy phường (02 dây phường do ông H1 làm trưởng một dây phường và anh Q làm trưởng một dây phường- lấy phường vào thời điểm mua xe) và vay tiền của anh em, cụ thể: Vay anh Nguyễn Văn P 200.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị T1 100.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị H 70.000.000 đồng). Năm 2016, anh trực tiếp bán chiếc xe này cho thợ mua xe (anh không còn nhớ tên, tuổi, địa chỉ) với giá khoảng 380.000.000 đồng đến nay anh không nhớ số tiền cụ thể, bán lúc chưa ly thân, không nhớ thời điểm cụ thể; T2 bán xe anh đã trả nợ tiền mua xe qua ngân hàng và trả nợ những người anh đã vay trên hết số tiền này. Anh không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc vay và trả tiền khi mua chiếc xe này.
01 xe mô tô Honda Ablade, 01 máy sục to, 06 máy sục nhỏ, 06 thùng inox đựng cá, 01 máy ắc quy chạy máy sục.
Về quyền sử dụng đất: Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 0, ngày cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ngày 25/10/2007, đất được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550ngày 25/10/2007 cho anh và chị Hoàng Thị C. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa đất trên thực địa tương ứng với lô số 17 theo sơ đồ phân lô, đất có diện tích 89,9 m² là thửa số 149, tờ bản đồ số 82, tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Công nợ chung: Nợ tiền phường của ông H1 140.000.000 đồng, lấy năm 2014 mua xe Vios; nợ tiền phường của ông C1 75.000.000 đồng, lấy mua xe Kia năm 2016, nợ tiền phường ông L1 36.000.000 đồng dùng để chi tiêu trong gia đình năm 2016, nợ tiền phường của ông Q 110.000.000 đồng, lấy mua xe kia năm 2016. Các khoản tiền phường này anh đã trả hết, không nhớ thời gian trả. Khi tham gia chơi phường do toàn là anh em quen biết nên không có sổ sách giấy tờ theo dõi. Một mình anh trực tiếp hỏi vay ông P 200.000.000 đồng để mua xe Vios năm 2014. Anh đã trả nợ hết cho ông P năm 2016. Nợ Ngân hàng L3 anh đã trả 216.000.000 đồng tháng 6/2017. Ngoài ra còn nợ công ty TNHH T5 mà anh đã trả tổng số tiền 270.000.000 đồng vào ngày 25/01/2016, thời gian này anh và chị C chưa ly thân. Số tiền 270.000.000 đồng là anh vay của các anh chị em để trả cho công ty T5, anh đã trả nợ hết số tiền 270.000.000 đồng, anh không có giấy tờ gì đối với khoản vay 270.000.000 đồng.
Ngoài ra còn nợ chị Nguyễn Thị H số tiền 70.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị T1 số tiền 100.000.000 đồng, anh C2 500.000.000 đồng. Đối với các khoản nợ này thì anh xác định là công nợ của riêng anh.
Anh yêu cầu Tòa án chia tài sản chung và công nợ chung theo quy định. Và anh yêu cầu Tòa án khi chia tài sản chung thì anh yêu cầu trừ số tiền phường, nợ ông P, nợ tiền hai ngân hàng, tổng tài sản chung còn lại là 926.500.000 đồng. Đối với thửa đất thì anh đề nghị được chia phần nhiều hơn vì đây là xuất ưu tiên anh được
3
hưởng, anh chỉ đồng ý trích chia cho chị C số tiền 300.000.000 đồng. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.
Đối với diện tích đất 392.9 m² có ngôi nhà 05 tầng xây khoảng năm 2012 là nhà do bố mẹ anh đứng ra làm, là của bố mẹ anh (ông H3, bà S), không phải đất của anh và chị C. Khi làm nhà anh và chị C chỉ có đóng góp công sức nước nôi cho thợ, không đóng góp tiền xây nhà. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do có tranh chấp nên chưa được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bố anh chết năm 2013, ông bà nội anh chết trước bố anh. Bố anh có 05 người con là chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn M và anh. Sau khi bố anh chết không để lại di chúc gì. Gia đình anh vẫn chưa phân chia di sản thửa kế của bố anh. Mẹ anh và các anh chị em vẫn chưa thỏa thuận, thống nhất gì về việc phân chia di sản do bố anh để lại.
Chị C rút yêu cầu chia một số tài sản chung và công sức đóng góp thì anh đồng ý và không có ý kiến gì. Chị C có quan điểm trích chia tài sản cho anh số tiền 900.000.000 đồng thì anh không đồng ý.
Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản thì anh không có ý kiến gì. Còn về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản anh đã nộp tạm ứng số tiền 2.200.000 đồng, anh xin chịu số tiền này, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là chị Hoàng Thị C trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Đoàn kết H2 năm 2000. Do mâu thuẫn không thể chung sống với nhau nên đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và đã được Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giải quyết cho ly hôn theo bản án số 47/2021/HNGĐ- ST ngày 21/8/2021, đồng thời giải quyết về con chung, tài sản chung và công nợ chung. Do bản án có kháng cáo, bản án phúc thẩm đã hủy phần về tài sản chung của vợ chồng. Sau đó Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã thụ lý và giải quyết lại vụ án đối với phần bản án bị hủy. Đến nay, chị yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và công nợ chung như sau:
- Về tài sản chung: Chị và anh Đ có các tài sản chung: 01 xe ô tô Toyota Vios, BKS 98A-064.50, mua tháng 10/2014, trị giá thời điểm mua là 650.000.000 đồng; Chiếc xe này anh Đ đã bán được khoảng 380.000.000 đồng sau khi chị và anh Đ sống ly thân, anh Đ đang giữ số tiền này. 01 xe ô tô tải Kia 1,4 tấn, BKS 98C-11756, mua năm 2016, trị giá thời điểm mua là 370.000.000 đồng; Chiếc xe này anh Đ đã bán được khoảng 200.000.000 đồng sau khi chị và anh Đ sống ly thân, anh Đ giữ số tiền này. 01 xe ô tô Suzuki, BKS 98C-44063 anh Đ đã bán sau khi C4 và anh Đ sống ly thân được 84.000.000 đồng, anh Đ giữ số tiền này. 01 xe mô tô Ablade, BKS 98D- 100362, mua năm 2010, anh Đ đang quản lý chiếc xe này.
Về bất động sản gồm: Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 0, đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550 ngày 25/10/2007 cho anh Nguyễn Văn Đ và chị. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa đất trên thực địa
4
tương ứng với lô số 17 theo sơ đồ phân lô, đất có diện tích 89,9 m² là thửa số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, còn có các tài sản chung đã được định giá gồm 01 máy sục to, 06 máy sục nhỏ, 06 thùng inox đựng cá, 01 máy ắc quy chạy máy sục.
Đối với diện tích đất ao 392.9 m² có ngôi nhà 05 tầng xây khoảng năm 2012 là nhà do chị và anh Đ xây dựng trên đất của bố mẹ anh Đ. Tuy nhiên ông H3 bà S cho chị và anh Đ xây dựng ngôi nhà 05 tầng trên đất ao đó. Chị và anh Đ đã đổ đất tân ao và xây dựng ngôi nhà 05 tầng này trên đất. Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa thì chị không nắm được. Ông Nguyễn Văn H3 chết năm 2013. Tiền làm nhà là của chị và anh Đ. Số tiền chị và anh Đ bỏ ra xây ngôi nhà hết khoảng 1.800.000.000 đồng. Ông H3 và bà S không đóng góp tiền để xây dựng ngôi nhà này. Ông H3 và bà S là nông nghiệp, thu nhập như thế nào thì chị không nắm được, theo chị thì thu nhập không được cao. Còn chị và anh Đ buôn cá thịt từ khoảng năm 2004 đến khi ly hôn, thu nhập khoảng 40.000.000 đồng/tháng.
Ngày 17/6/2024, chị C thay đổi lời khai, rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể là rút yêu cầu Tòa án chia công sức của chị đóng góp khi xây dựng ngôi nhà 05 tầng trên diện tích đất ao 392.9 m².
Anh Đ khai chị và anh Đ có khoản nợ chung là nợ công ty T5 270.000.000 đồng, ông P 200.000.000 đồng và các khoản tiền phường thì chị không đồng ý. Đối với khoản tiền nợ 270.000.000 đồng đã được trả trong thời kỳ hôn nhân, lúc đó vợ chồng chưa ly thân, dùng tiền chung của chị và anh Đ để trả.
Nay chị yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là số tiền bán chiếc xe ô tô Toyota Vios, BKS 98A-064.50 (380.000.000 đồng); 01 xe ô tô tải Kia 1,4 tấn, BKS 98C-11756 (200.000.000 đồng) và 01 thửa đất số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên chị và anh Đ. Trước khi chia tài sản chung, chị đồng ý trừ đi khoản nợ của Ngân hàng L3 là 216.000.000 đồng. Chị đồng ý về nguồn gốc của thửa đất như anh Đ trình bày. Chị yêu cầu được chia bằng đất, chị có nghĩa vụ trích trả phần giá trị anh Đ được hưởng, chị đề nghị chia cho anh Đ phần hơn (900.000.000 đồng).
Còn các tài sản khác chị không yêu cầu chia, chị xin rút yêu cầu chia đối với những tài sản gồm: 01 xe ô tô Suzuki, BKS 98C-44063; 01 xe mô tô Ablade, BKS 98D-100362; 01 máy sục to, 06 máy sục nhỏ, 06 thùng inox đựng cá, 01 máy ắc quy chạy máy sục, công sức đóng góp khi xây dựng ngôi nhà 05 tầng trên diện tích đất ao 392.9 m².
Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản thì chị nhất trí và không có ý kiến gì. Chị đồng ý và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo giá mà Hội đồng định giá đã định giá lại đối với thửa đất số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Còn về giá trị đối với hai chiếc xe ô tô mà anh Đ đã bán thì chị đồng ý với giá mà anh Đ đã bán, chị không yêu cầu định
5
giá đối với hai chiếc xe ô tô này. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ chị tự nguyện nhận chịu số tiền đã nộp.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S (tên gọi khác là Văn Thị S1) trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ. Vợ chồng anh Đ chị C đã giải quyết ly hôn tại Tòa án, hiện nay đang giải quyết về tài sản chung và công nợ chung. Chồng bà là ông Nguyễn Văn H3, đã chết năm 2013. Vợ chồng bà có 05 người con là chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn Đ. Bố mẹ ông H3 đều chết trước ông H3.
Vợ chồng bà có diện tích đất 392.9 m², trên đất có xây ngôi nhà 05 tầng (xây khoảng năm 2012), tiền xây dựng ngôi nhà này là của vợ chồng bà. Khi làm nhà thì ông H3 làm nghề buôn cá giống, còn bà làm nông nghiệp, thu nhập cụ thể bà không nắm được. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do có tranh chấp nên chưa được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khi xây dựng ngôi nhà trên thì vợ chồng anh Đ, chị C có công sức trông nom thợ xây. Anh Đ, chị C không đóng góp tiền để xây ngôi nhà này. Mục đích xây ngôi nhà này để ở, chưa có ý định cho con nào. Nay chị C yêu cầu chia công sức đóng góp xây dựng ngôi nhà này thì bà không đồng ý vì chị C không có công sức đóng góp gì khi xây dựng ngôi nhà này. Do điều sức khỏe nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án vắng mặt bà. Vì bà là người cao tuổi nên đề nghị Tòa án xem xét miễn tiền án phí cho bà theo quy định. Các văn bản đề nghị Tòa án gửi cho bà qua anh Nguyễn Văn Đ.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Mạnh C1 trình bày: Giữa anh với anh Nguyễn Văn Đ, chị Hoàng Thị C có quan hệ xã hội (hàng xóm láng giềng). Anh là trưởng 01 dây phường gồm 16 người chơi và chơi phường từ năm 2005 đến nay đã được nhiều vòng, anh Nguyễn Văn Đ đã lấy tiền phường, tổng là 75.000.000₫ (Bẩy mươi lăm triệu đồng). Sau đó anh Đ đã nộp đủ cho anh để anh trả cho các thành viên trong hội. Thời điểm kết thúc vòng chơi này thì anh không nhớ chính xác. Anh xác định chị C biết rõ việc chơi phường này, vì đến lượt lấy các thành viên trong hội phường đều ăn cơm tại nhà người được lấy phường, anh xác định không còn liên quan gì về tiền phường với anh Đ, chị C nên không có yêu cầu, đề nghị gì. Do điều công việc nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án vắng mặt anh. Các văn bản giấy tờ do Tòa án gửi anh đều nhận được. Các văn bản tố tụng đề nghị Tòa án gửi cho anh theo địa chỉ của anh.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Chu Văn L1 trình bày: Anh là trưởng 01 dây phường gồm 18 người chơi. Hội phường chơi từ năm 2010 đến nay hết vòng này lại sang vòng khác. Năm 2014 anh Đ có lấy 01 dây phường để mua ô tô vios, số tiền phường anh giao cho anh Đ lúc đó là 36.000.000 đồng. Khi giao tiền phường thì anh Đ, chị C có làm cơm mời anh em trong hội phường đến nhà. Đến nay Hội phường đã kết thúc, anh Đ đã đóng trả lại cho ông đầy đủ số tiền 36 triệu
6
đồng, anh xác định không còn liên quan gì và không có yêu cầu gì trong vụ án ly hôn giữa anh Đ và chị C.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Ông là trưởng 01 dây phường gồm hơn 20 người chơi. Khoảng năm 2013, anh Đ có tham gia chơi dây phường cùng ông, có lấy tiền phường của dây phường này khoảng năm 2016 là hơn 100 triệu đồng nói để trả tiền mua ô tô. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án ly hôn giữa anh Đ và chị C.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn Q trình bày: Ông là trưởng 01 dây phường gồm 23 người chơi. Năm 2014, anh Đ có lấy 01 dây phường và xin lấy đầu (khoảng tháng 3/2014), nói là để mua ô tô, số tiền phường ông giao cho anh Đ lúc đó là 110.000.000 đồng của dây phường này, sau này anh Đ đã nộp lại tiền phường cho ông đầy đủ. Khi anh Đ lấy tiền phường năm 2014, anh em trong dây phường đều đến nhà anh Đ, chị C ăn cơm nên chị C biết rõ việc này. Đến nay dây phường đã kết thúc, ông không có yêu cầu gì trong vụ án ly hôn giữa anh Đ và chị C.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C2 trình bày: Anh với anh Đ trước đây có mối quan hệ xã hội quen biết. Nay anh làm cháu rể của anh Đ. Khoảng giữa năm 2018, anh Đ hỏi vay anh là 500.000.000 đồng, lãi suất không có. Khi vay hai bên có làm giấy tờ vay tiền. Thời điểm anh Đ vay tiền thì vợ chồng anh Đ và chị C đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa. Nay anh Đ và chị C giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng sau thời kỳ hôn nhân anh xác định đây là nợ chung của vợ chồng vì anh Đ, chị C lúc đó vẫn ly thân chứ chưa ly hôn. Anh Đ vay tiền về để chi tiêu chung trong gia đình.Tuy nhiên, anh không yêu cầu tòa án giải quyết buộc anh Đ và chị C phải trả anh số tiền 500.000.000 đồng. Các bên sẽ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được anh sẽ khởi kiện trong vụ án khác. Do điều kiện công việc nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án vắng mặt anh. Các văn bản giấy tờ do Tòa án gửi anh đều nhận được.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn M trình bày: Anh là em trai của anh Đ. Vào 2017, anh có mua ô tô tải 98C-11756 giá khoảng 220 triệu hay 230 triệu đến nay anh không còn nhớ cụ thể. Việc mua bán xe giữa anh và anh Đ đã xong, hai bên không cón liên quan gì đến kinh tế hay nợ gì về tiền mua bán xe. Anh là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H3. Khi chết ông H3 không để lại di chúc gì. Di sản ông H3 để lại là một phần trong khối tài sản chung với bà Nguyễn Thị S là quyền sử dụng thửa đất số 79, tờ bản đồ 12, diện tích 392,9 m² tại tổ dân phố T, thị trấn T. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do có tranh chấp nên chưa được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay gia đình vẫn chưa có thỏa thuận gì về việc phân chia di sản của ông H3. Chị C có yêu cầu đối với nhà đất này thì anh không đồng ý.
7
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn P trình bày: Giữa anh với anh Nguyễn Văn Đ có quan hệ họ hàng. Khoảng năm 2014, anh Đ có hỏi vay anh số tiền 200.000.000 đồng để mua xe ô tô Vios, lúc đó vợ chồng anh Đ chị C vẫn chung sống hòa thuận nên chỉ một mình anh Đ đến hỏi vay. Anh đã cho anh Đ vay số tiền 200.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ gì. Anh Đ đã trực tiếp trả lại anh số tiền đã vay 200.000.000 đồng vào khoảng năm 2018. Hiện nay, anh xác định hai bên không còn liên quan đến nhau.
Nay anh Đ và chị C có tranh chấp về tài sản chung và công nợ chung thì anh không có ý kiến và không có yêu cầu gì. Do điều công việc nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án vắng mặt anh. Các văn bản giấy tờ do Tòa án gửi anh đều nhận được.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang - Do ông Nguyễn Văn C3- Phó phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện H đại diện theo ủy quyền trình bày:
Việc cấp GCNQSD đất đối với:
- GCNQSD đất số BR 455728, cấp ngày 31/12/2013 (thửa đất số 89, tờ bản đồ số 12, diện tích 485,5 m²) mang tên ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị S;
- Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 0, diện tích 90 m² cấp GCNQSD đất ngày 25/10/2007 mang tên ông Nguyễn Văn Đ bà Hoàng Thị C;
- Thửa 79, tờ 12, diện tích 392,9 m² mang tên ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị S, GCNQSD đất số BR371767.
Về trình tự, thủ tục việc cấp các GCNQSD nêu trên đảm bảo đúng quy định. Tuy nhiên, hiện nay đối với Thửa 79, tờ 12, diện tích 392,9 m² mang tên bà Nguyễn Thị S UBND huyện chưa cấp, trao cho công dân do chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước số tiền 125.700.000 đồng; người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền của mình khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T1 trình bày: Giữa chị với anh Nguyễn Văn Đ, chị Hoàng Thị C có quan hệ gia đình. Chị là chị gái của anh Đ. Chị giữ nguyên các lời khai và lời trình bày của minh trong các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm trước đây. Khoảng 2014 chị không nhớ rõ ngày, tháng cụ thể khi vợ chồng anh Đ, chị C còn đang chung sống và mua xe ô tô con thì vợ chồng anh Đ chị C cùng hỏi vay chị số tiền 100.000.000 đồng. Khi vay là chị cầm tiền lên tận gia đình anh Đ và chị C cho vay tiền. Lúc đó chị C và anh Đ có mặt ở nhà. Vì là anh chị em trong gia đình nên khi chị cho vợ chồng anh Đ và chị C vay tiền thì hai bên không làm văn bản, giấy tờ gì. Sau khi chị cho vay anh Đ, chị C vay tiền thì vì kinh tế anh Đ, chị C chưa có và ổn định nên chị có đòi nhiều lần nhưng anh Đ và chị C vẫn không trả cho chị. Sau đó vợ chồng anh Đ, chị C mâu thuẫn nên làm thủ tục ly hôn. Chị cũng đã tiến hành đòi vợ chồng anh Đ, chị C nhiều lần nhưng do anh Đoàn C4 C làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nên vợ chồng anh Đ, chị C chưa trả tiền cho chị.
8
Nay Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng anh Đ và chị C trong thời kỳ hôn nhân. Chị xác định anh Đ và chị C cùng nợ chị số tiền nợ 100.000.000 đồng nhưng chị không yêu cầu tòa án giải quyết buộc anh Đ và chị C phải trả chị số tiền 100.000.000 đồng. Các bên sẽ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được chị sẽ khởi kiện trong vụ án khác. Do điều công việc nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án vắng mặt chị. Các văn bản giấy tờ do Tòa án gửi chị đều nhận được.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H trình bày: Giữa chị với anh Nguyễn Văn Đ, chị Hoàng Thị C có quan hệ gia đình. Chị là chị của anh Đ. Chị giữ nguyên các lời khai và lời trình bày của mình trong các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm trước đây đã trình bày Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Khoảng 2016, chị không nhớ rõ ngày, tháng cụ thể khi vợ chồng anh Đ, chị C còn đang chung sống và mua xe ô tô thì vợ chồng anh Đ và chị C cùng hỏi vay chị số tiền 70.000.000 đồng. Khi vay là chị cầm tiền lên tận gia đình anh Đ và chị C cho vay tiền. Lúc đó chị C và anh Đ có mặt ở nhà. Vì là anh chị em trong gia đình nên khi chị cho vợ chồng anh Đ và chị C vay tiền thì hai bên không làm văn bản, giấy tờ gì. Sau khi chị cho vay anh Đ, chị C vay tiền thì vì kinh tế anh Đ, chị C chưa có và ổn định nên chị có đòi nhiều lần nhưng anh Đ và chị C vẫn không trả cho chị. Sau đó vợ chồng anh Đ, chị C mâu thuẫn nên làm thủ tục ly hôn. Chị cũng đã tiến hành đòi vợ chồng anh Đ, chị C nhiều lần nhưng do anh Đoàn C4 C làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nên vợ chồng anh Đ, chị C chưa trả tiền cho chị. Nay Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng anh Đ và chị C trong thời kỳ hôn nhân. Chị xác định anh Đ và chị C cùng nợ chị số tiền nợ 70.000.000 đồng nhưng chị không yêu cầu tòa án giải quyết buộc anh Đ và chị C phải trả chị số tiền 70.000.000 đồng. Các bên sẽ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được chị sẽ khởi kiện trong vụ án khác. Do điều công việc nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án vắng mặt chị. Các văn bản giấy tờ do Tòa án gửi chị đều nhận được.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn K trình bày: Giữa anh với anh Nguyễn Văn Đ, chị Hoàng Thị C có quan hệ gia đình. Anh là em trai của anh Đ. Anh giữ nguyên các lời khai và lời trình bày của mình trong các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm trước đây anh đã trình bày tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Khoảng đầu 2016, anh không nhớ rõ ngày, tháng cụ thể khi chị C cần tiền thì chị C hỏi vay anh số tiền 30.000.000 đồng. Khi vay chị C nói là vay nóng sẽ trả ngay, anh đã cho chị C vay số tiền 30.000.000 đồng. Chị C là người vào nhà anh để cầm số tiền 30.000.000 đồng. Cũng vì là anh em trong gia đình nên khi chị C vay tiền anh không lập văn bản giấy tờ gì. Sau khi vay tiền xong thì vài tháng sau thì vợ chồng anh Đ, chị C xảy ra mâu thuẫn. Anh đã tiến hành đòi chị C số tiền chị C đã vay là 30.000.000 đồng nhưng chị C nói là đã chi tiêu vào gia đình nên chị C không trả. Nay anh không có yêu cầu Tòa án giải quyết việc chị C nợ anh. Gia đình anh có thửa đất theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa
9
đất trên thực địa tương ứng với lô số 18 theo sơ đồ phân lô nay là thửa số 150, tờ bản đồ số 82. Thửa đất của gia đình anh giáp với thửa đất của anh Nguyễn Văn Đ là thửa số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Anh đã được chính quyền và cơ quan chức năng thông báo về việc thửa đất có thay đổi về số lô số thửa và phương hướng giải quyết. Anh đồng ý và không có ý kiến gì. Hiện anh đang làm thủ tục đề nghị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với thửa đất thực tế mà anh đang sử dụng theo trích lục bản đồ là thửa số 150, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Gia đình anh không có tranh chấp gì với các hộ có các thửa đất tiếp giáp với thửa đất của gia đình anh.
* Qua làm việc với anh Chu Minh S2, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang; cho biết: Anh có thửa đất số lô 17, tờ bản đồ số 0, diện tích 90 m² tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, Bắc Giang. Thửa đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên thực địa là thửa đất số 16, tờ bản đồ số 0. Hiện nay là thửa đất số 148 tờ bản đồ số 82. Thửa đất của anh tiếp giáp với thửa đất của anh Đ là thửa đất số 18 tờ bản đồ số 0. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa đất trên thực địa tương ứng với số 17 theo sơ đồ phân lô, đất có diện tích 89,9 m².
Anh đã được chính quyền và cơ quan có thẩm quyền thông báo về việc thửa đất của anh hiện nay trên thực tế có thay đổi về số lô, số thửa theo bản đồ quy hoạch cũ. Anh đã được Ủy ban nhân dân huyện H và Ủy ban nhân dân thị trấn T3 đưa ra phương hướng giải quyết sự thay đổi số lô, số thửa trên diện tích đất của anh. Anh đồng ý với phương hướng của Ủy ban nhân dân huyện H đưa ra và anh đồng ý với diện tích thực trạng hiện nay (tương ứng với số lô 16 theo bản đồ quy hoạch cũ và hiện nay là thửa số148 tờ bản đồ số 82 theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Thửa đất của anh hiện không có tranh chấp gì đối với thửa đất liền kề là thửa đất của gia đình anh Đ. Ngoài ra thửa đất của anh còn giáp ranh với thửa đất của nhà anh Chu Văn T4 (là em trai anh), thửa đất của gia đình anh T4 đã được xây nhà và không có tranh chấp gì đối với đất của anh.
Trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của các đương sự, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, kết quả như sau:
- Thửa đất số lô 18, tờ bản đồ số 0, diện tích 90 m²; tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đất được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550ngày 25/10/2007 cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị C. Các phía tiếp giáp của thửa đất: Phía Đông giáp đất của hộ anh Nguyễn Văn K, phía Tây giáp thửa đất của hộ anh Chu Văn T4, phía Nam giáp đường khu đô thị, phía Bắc giáp đường đi (bờ kênh). Theo trích lục bản đồ địa chính
10
ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa đất trên thực địa tương ứng với lô số 17 theo sơ đồ phân lô, đất có diện tích 89,9 m² là thửa số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Thửa đất có giá: 15.000.000 đồng/m2, giá trị thửa đất 1.348.500.000 đồng.
Với nội dung nêu trên, bản án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm số: 36/2024/HNGĐ-ST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân huyện H, tỉnh Bắc Giang, đã quyết định:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 213 của Bộ luật dân sự. Điều 33 và Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chia cho chị Hoàng Thị C được quyền sử dụng thửa đất số 18, tờ bản đồ số 0, được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550 ngày 25/10/2007 cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị C. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa đất trên thực địa tương ứng với lô số 17 theo sơ đồ phân lô. Nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82, đất có diện tích 89,9 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Chị Hoàng Thị C có nghĩa vụ trích chia cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 536.000.000 đồng (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án).
Anh Nguyễn Văn Đ được chia số tiền 900.000.000 đồng (Trong đó anh Nguyễn Văn Đ đang giữ 364.000.000 đồng và được chị Hoàng Thị C trích chia 536.000.000 đồng).
2. Đình chỉ một phần yêu cầu của chị Hoàng Thị C về việc yêu cầu chia tài sản chung là 01 xe mô tô Honda Ablade, 01 máy sục to, 06 máy sục nhỏ, 06 thùng inox đựng cá, 01 máy ắc quy chạy máy sục và yêu cầu công sức đóng góp xây dựng ngôi nhà 05 tầng trên diện tích đất ao 392.9 m².
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá tài sản; án phí; quyền yêu cầu thi hành án; lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 29/7/2024, anh Nguyễn Văn Đ kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nội dung kháng cáo đề nghị Toà phúc thẩm xem xét sửa một phần của bản án sơ thẩm: Không đồng ý chia thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² cho chị C vì anh đang phải nuôi 03 con và không có chỗ ở, đây là đất có nguồn gốc của gia đình anh. Đề nghị xem xét giải quyết các công nợ liên quan đến xe Toyota 270.000.000 đồng do mua xe trả góp của Ngân hàng và vay nợ anh P 200.000.000
11
đồng, khi bán xe trả nợ Ngân hàng và anh P. Đề nghị xem xét giải quyết 04 dây phường 340.000.000 đồng.
Tại phiên Toà phúc thẩm, anh Nguyễn Văn Đ là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh có xuất ruộng nông nghiệp bán cho doanh nghiệp và được ưu tiên mua một lô đất tại thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82, đất có diện tích 89,9 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh và chị Hoàng Thị C. Có được thửa đất này là do nguồn tiền anh bán ruộng canh tác mà có; do vậy đề nghị chia cho anh thửa đất này anh sẽ trích chia cho chị C bằng tiền. Đối với số tiền bán xe ô tô Vios được 380.000.000 đồng anh đã trả nợ ông P1 và Ngân hàng hết không còn; án sơ thẩm xác định anh quản lý số tiền bán xe này là không có. Tiền lấy 04 dây phường từ năm 2014 đến năm 2016 để mua xe ô tô, sau khi vợ chồng ly thân anh đã vay mượn tiền của bạn bè anh em để nộp tiền chơi 04 dây phường này. Tại phiên tòa phúc thẩm anh xác định tổng số là 361.000.000 đồng. Anh đề nghị xác định đây là tiền nợ chung của vợ chồng yêu cầu chị C cùng có trách nhiệm trả nợ.
Chị Hoàng Thị C trình bày: Thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82, đất có diện tích 89,9 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn Đ và chị. Nguồn tiền mua là do vợ chồng buôn bán thịt và cá mà có để mua không phải tiền do anh Đ bán ruộng như anh Đ khai, hiện tại thửa đất này chưa xây dựng công trình gì trên đất. Anh Đ hiện có chỗ ở là nhà 05 tầng trên diện tích đất ao 392.9 m² của ông H3, bà S là bố mẹ đẻ anh Đ, chị hiện tại không có chỗ ở phải đi ở nhờ. Chị giữ nguyên yêu cầu được sử dụng đất và không đồng ý trích chia chênh lệch thêm cho anh Đ. Đối với kháng cáo của anh Đ cho rằng số tiền bán xe ô tô Vios được 380.000.000 đồng anh đã trả nợ ông P1 và Ngân hàng hết chị không được biết, anh Đ không có giấy tờ chứng minh đem số tiền trên đi trả nợ; anh Đ tự ý bán xe ô tô không nói gì với chị, do vậy, chị không chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh Đ. Anh Đ kháng cáo cho rằng đề nghị chia số tiền nợ phường anh Đ đã trả là 361.000.000 đồng, anh Đ không có giấy tờ chứng minh đem số tiền trên đi trả nợ, việc anh Đ chơi phường, lấy phường như thế nào chị không được biết, mặt khác anh Đ cũng không có căn cứ gì chứng minh, do vậy chị xác định không có khoản nợ này và không đông ý trả nợ cùng anh Đ số tiền này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn Đ: Ông Tạ Văn T trình bày quan điểm bảo vệ:
Đối với số tiền phường của anh Dương văn Q, anh Chu Văn L1, anh Nguyễn Văn H1 và anh Đặng Mạnh C1 anh Đ đã lấy vào năm 2014 và 2016 tổng số tiền là
12
361.000.000 đồng để mua xe ô tô Vios và xe ô tô KIA (xe tải). Thời điểm anh Đ chị C chơi phường, lấy tiền phường mua xe ô tô thì vợ chồng chưa ly thân. Sau khi ly thân, anh Đ phải vay mượn để trả số tiền này. Chị C không chứng minh được số tiền phường trên anh Đ sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân, thực tế thì anh Đ đã sử dụng vào việc mua 02 xe ô tô. Do vậy, đề nghị xác nhận số tiền 361.000.000 đồng là nợ chung vợ chồng giữa anh Đ và chị C và được khấu trừ vào khối tài sản chung vợ chồng khi xem xét chia tài sản chung.
Đối với số tiền bán xe ô tô Vios và xe ô tô KIA được 580.000.000 đồng, anh Đ đã phải trả nợ Ngân hàng, trả nợ tiền vay ông P khi mua xe và khi ly hôn anh phải nuôi 03 con ăn học, do vậy, số tiền bán xe không còn là tài sản chung của vợ chồng để phân chia trong vụ án này. Do vậy, không có căn cứ cho rằng anh Đ đang quản lý số tiền bán 02 xe ô tô là 580.000.000 đồng.
Đối với Thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82, đất có diện tích 89,9 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550 ngày 25/10/2007 mang tên anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị C. Nguồn gốc là do gia đình ông cha có xuất ruộng nước nhà nước thu hồi phía doanh nghiệp mua lại 1 sào 7 thước với giá 16.500.000 đồng là xuất ruộng của anh Đ. Năm 2006 anh Đ có đấu giá và trúng 01 lô đất với giá 18.000.000 đồng trong đó có 16.500.000 đồng được khấu trừ trực tiếp từ việc thu hồi đất ruộng của anh Đ. Như vậy, thửa đất trên có nguồn gốc từ tài sản riêng của anh Đ và có một phần đóng góp chung của vợ chồng. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và quy định của pháp luật hiện hành, về nguyên tắc, quyền sử dụng thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82, đất có diện tích 89,9 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị C có nguồn gốc là từ tài sản riêng của anh Đ, do đó cần đánh giá anh Đ có công sức nhiều hơn nên cần được xem xét trích chia giá trị quyền sử dụng đất nhiều hơn mà không áp dụng nguyên tắc chia đôi tài sản chung thông thường. Phần tài sản riêng của anh Đoàn S3 nhập trộn lẫn vào khối tài sản chung trong trường hợp này có thể xác định được. Xét điều kiện, hoàn cảnh để chia đất bằng hiện vật, hiện nay anh Đ chưa có chỗ ở ổn định phải đi ở nhờ, mặt khác, hiện anh đang nuôi con trai chưa thành niên, việc anh Đ có nhu cầu được sử dụng đất để xây nhà cho con có chỗ ở ổn định là cần thiết. Do đó đề nghị Tòa án phân chia cho anh Đ được quyền sử dụng đất và trích chia chênh lệch tài sản cho chị C bằng tiền.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu chia tiền bán xe ô tô. Chia cho anh Đ quyền sử dụng thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82, đất có diện tích 89,9 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị
13
C. Xác định số tiền 04 dây phường tổng số tiền là 361.000.000 đồng là nợ chung của vợ chồng và chia khoản nợ chung này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn Đ: Bà Nguyễn Thị L - Luật sư, đồng ý với quan điểm của Luật sư Tạ Văn T trình bày bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Đ, không tranh luận đối đáp gì thêm.
Anh Nguyễn Văn Đ đồng ý với quan điểm của các Luật sư, không tranh luận gì thêm.
Chị Hoàng Thị C tranh luận: Chị không đồng ý với các nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên các vấn đề như bản án sơ thẩm đã xét xử, không tranh luận đối đáp gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ không được chấp nhận nên anh Đ phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:
Xét kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ là bị đơn đề nghị Toà phúc thẩm xem xét không đồng ý chia thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² cho chị C vì anh đang phải nuôi 03 con và không có chỗ ở, đây là đất có nguồn gốc của gia đình anh. Đề nghị xem xét giải quyết các công nợ liên quan đến xe Toyota 270.000.000 đồng do mua xe trả góp của Ngân hàng và vay nợ anh P 200.000.000 đồng, khi bán xe trả nợ Ngân hàng và anh P. Đề nghị xem xét giải quyết 04 dây phường 340.000.000 đồng.
[1]. Đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ đề nghị Toà phúc thẩm xem xét không đồng ý chia thửa đất số 18, bản đồ số 0, diện tích 90m² cho chị C vì anh đang phải nuôi 03 con và không có chỗ ở, đây là đất có nguồn gốc của gia đình anh. Hội đồng xét xử xét thấy:
Quyền sử dụng thửa đất có diện tích 90 m², tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 0, đất được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550 ngày 25/10/2007 cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị C. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác
14
định vị trí thửa đất trên thực địa tương ứng với lô số 17 theo sơ đồ phân lô, đất có diện tích 89,9 m² nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Theo kết quả định giá thì thửa đất có giá 1.348.500.000 đồng.
Cả anh Đ và chị C đều yêu cầu được chia thửa đất. Xét thấy, hiện tại chị C chưa có chỗ ở, đang đi ở nhờ. Để đảm bảo quyền lợi cho người vợ sau khi ly hôn, tạo điều kiện cho chị C có cuộc sống ổn định Tòa sơ thẩm đã giao cho chị C sử dụng tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất diện tích 90 m², tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 0, đất được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550 ngày 25/10/2007 cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị C. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa đất trên thực địa tương ứng với lô số 17 theo sơ đồ phân lô, đất có diện tích 89,9 m² là thửa số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Chị C có nghĩa vụ trích chia giá trị chênh lệch về tài sản cho anh Đ, là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
[2]. Đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ đề nghị xem xét giải quyết các công nợ liên quan đến xe Toyota 270.000.000 đồng do mua xe trả góp của Ngân hàng và vay nợ anh P 200.000.000 đồng, khi bán xe trả nợ Ngân hàng và anh P. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo lời khai của anh Đ: Năm 2014, vợ chồng có mua 01 xe ô tô Vios, biển kiểm soát 98A-064.50 với giá 660.000.000 đồng, trả trước được 410.000.000 đồng, còn nợ lại là 250.000.000 đồng trả góp ở Thái Nguyên, toàn bộ tiền mua xe là do anh lấy phường (02 dây phường do ông H1 làm trưởng một dây phường và anh Q làm trưởng một dây phường- lấy phường vào thời điểm mua xe) và vay tiền của anh em, cụ thể: Vay anh Nguyễn Văn P 200.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị T1 100.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị H 70.000.000 đồng). Năm 2016, anh trực tiếp bán chiếc xe này cho thợ mua xe (anh không còn nhớ tên, tuổi, địa chỉ) với giá khoảng 380.000.000 đồng đến nay anh không nhớ số tiền cụ thể, bán lúc chưa ly thân, không nhớ thời điểm cụ thể; T2 bán xe anh đã trả nợ tiền mua xe qua ngân hàng và trả nợ những người anh đã vay trên hết số tiền này. Anh không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc vay và trả tiền khi mua chiếc xe này.
Anh Đ khai, một mình anh trực tiếp hỏi vay ông P 200.000.000 đồng để mua xe Vios. Anh đã trả nợ hết cho ông P năm 2016. Trả nợ Ngân hàng L3 216.000.000 đồng vào tháng 6/2017. Ngoài ra còn nợ công ty TNHH T5 mà anh đã trả tổng số tiền 270.000.000 đồng vào ngày 25/01/2016, thời gian này vợ chồng chưa ly thân, anh không có giấy tờ gì đối với khoản vay 270.000.000 đồng. Theo lời khai chị C thì khi chị và anh Đ ly thân chị và anh Đ chỉ nợ tiền xe trả góp của Ngân hàng L3, ngoài ra không nợ gì ai. Chị C chỉ đồng ý trừ đi khoản nợ của Ngân hàng L3 số tiền 216.000.000 đồng (Theo Biên lai thanh toán của Ngân hàng L3 ngày 27/6/2017),
15
không thừa nhận các khoản nợ mà anh Đ đưa ra, đồng thời anh Đ không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh các khoản nợ này là nợ chung của vợ chồng nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh Đ.
[3]. Đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ đề nghị xem xét giải quyết 04 dây phường 361.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo anh Đ xác định nợ chung của anh và chị C gồm: Nợ tiền phường của ông H1 140.000.000 đồng, lấy năm 2014 để mua xe Vios; nợ tiền phường của ông C1 75.000.000 đồng, lấy mua xe Kia năm 2016; nợ tiền phường ông L1 36.000.000 đồng dùng để chi tiêu trong gia đình năm 2016; nợ tiền phường của ông Q 110.000.000 đồng, lấy mua xe Kia năm 2016. Các khoản tiền phường này anh đã trả hết, không nhớ thời gian trả. Khi tham gia chơi phường do toàn là anh em quen biết nên không có sổ sách giấy tờ theo dõi.
Theo chị C thì khi vợ chồng ly thân thì chị và anh Đ chỉ nợ của Ngân hàng L3 số tiền khoảng 200.000.000 đồng, theo biên lai thanh toán mà anh Đ thanh toán cho Ngân hàng là 216.000.000 đồng, do vậy chị xác định khoản nợ 216.000.000 đồng là công nợ chung của chị và anh Đ. Đối với các khoản tiền phường chị C không thừa nhận các khoản tiền phường là công nợ chung của vợ chồng. Anh Đ không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh lấy phường để mua xe ô tô nên không có căn cứ để xác định các khoản tiền phường là công nợ chung của vợ chồng để phân chia. Do vậy không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh Đ.
[4]. Như vậy, xác định tài sản chung của anh Đ và chị C yêu cầu chia gồm: 01 xe KIA (xe tải), biển kiểm soát số 98C-117.56 (anh Đ đã bán với giá là 200.000.000 đồng); xe ô tô Vios, biển kiểm soát 98A-064.50 (anh Đ đã bán với giá khoảng 380.000.000 đồng); Quyền sử dụng thửa đất có diện tích 90 m², tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 0, đất được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 654550 ngày 25/10/2007 cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Hoàng Thị C. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 11/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì xác định vị trí thửa đất trên thực địa tương ứng với lô số 17 theo sơ đồ phân lô, đất có diện tích 89,9 m² nay là thửa số 149, tờ bản đồ số 82 tại địa chỉ Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Theo kết quả định giá thì thửa đất có giá 1.348.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung của anh Đ và chị C là 1.928.500.000 đồng.
Sau khi trừ đi khoản nợ mà anh Đ đã thanh toán cho Ngân hàng L3 (216.000.000 đồng) thì tài sản chung của anh Đ và chị C còn 1.712.500.000 đồng, cụ thể mỗi người được chia: (1.712.500.000 đồng : 2) = 856.250.000 đồng, tuy nhiên chị C đề nghị chia cho anh Đ phần nhiều hơn cụ thể là 900.000.000 đồng, xét thấy đề nghị của chị C là phù hợp.
Anh Đ giữ tiền bán 02 xe ô tô sau khi trừ đi số tiền nợ Ngân hàng là (580.000.000 đồng - 216.000.000 đồng) = 364.000.000 đồng. Chị C được quyền sử dụng thửa đất trị giá 1.348.500.000 đồng, chị C có nghĩa vụ trích chia cho anh Đ số
16
tiền chênh lệch còn lại là: 900.000.000 đồng - 364.000.000 đồng = 536.000.000 đồng.
[5]. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Nguyễn Văn Đ không xuất trình được các tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của anh Đ, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[6]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ không được chấp nhận nên anh Đ phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[7]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Đ về phần chia tài sản chung vợ chồng;
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Giữ nguyên quyết định của bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 36/2024/HNGĐ-ST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Xác nhận anh Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004076 ngày 29/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| - VKSND tỉnh Bắc Giang; | Nguyễn Gia Lương |
| - TAND huyện Hiệp Hòa; | |
| - VKSND huyện Hiệp Hòa; | |
| - CCTHADS huyện Hiệp Hòa; | |
| - Cổng TTĐT; | |
| - Lưu HS, VP. |
17
18
Bản án số 13/2025/HNGĐ-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ - Hoang Thị C Chia tài sản chung sau ly hôn
