|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 15/4/2025
Về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh
2. Ông Nguyễn Văn Hội
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình.
- Đại diện VKSND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt H; Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 04 năm 2025 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 212/2024/ TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXX - ST ngày 28/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên Đơn: Chị Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1998; (Có mặt tại phiên tòa) Nơi ĐKTT: Thôn phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;
Bị Đơn: Anh Hoàng Thái S, sinh năm 1996; (Vắng mặt tại phiên tòa) Nơi cư trú: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16/10/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Á trình bày: Chị kết hôn với anh Hoàng Thái S trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ngày 30/10/2017. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Anh S không tu chí làm ăn để chăm lo cho gia đình, vợ con. Từ tháng 6/2022 đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, chị Á đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thị trấn G sinh sống. Gia đình hai bên đã hòa giải, khuyên bảo nhưng anh S không thay đổi từ đó hai vợ chồng không có tiếng nói chung và cuộc sống chung không thể hòa hợp được nữa. Nay chị Á xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Hoàng Đăng K, sinh ngày 28/11/2018 và Nguyễn Hoàng Minh Đ, sinh ngày 06/11/2021. Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Á yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Minh Đ đến khi thành niên còn anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Đăng K đến khi thành niên.
Tại phiên tòa, chị ánh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi thành niên.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Á không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Hoàng Thái S vắng mặt tại nơi cư trú nên không cung cấp lời khai cho Tòa án.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã X, huyện P, nơi anh S có đăng ký thường trú, được cung cấp thông tin: Anh Hoàng Thái S có đăng ký nhân khẩu thường trú tại xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên anh S không có mặt tại địa phương, khi đi không thông báo gì với chính quyền địa phương nên không biết anh S đi đâu. Hiện ở địa phương mẹ đẻ, và anh trai anh S sinh sống.
Tại biên bản làm việc với mẹ đẻ anh S (bà Đỗ Thị H1) tại xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên được cung cấp thông tin: Anh Hoàng Thái S đã đi làm ăn xa không về nhà thỉnh thoảng có gọi điện về nhà (theo gia đình được biết anh S có nói đi làm ăn tại Cam Pu C nhưng cũng không biết địa chỉ và công việc cụ thể ở đâu, làm gì). Thỉnh thoảng anh S có liên lạc với gia đình nhưng không nói ở đâu, làm gì. Bà H1, mẹ anh S có thông báo với anh S việc Tòa án đang giải quyết ly hôn với chị Á, anh S có nắm được thông tin nhưng cho biết là không về được.
Tòa án đã có Công văn số 246/ CV- TA ngày 05/12/2024 đề nghị Phòng Q - Công an tỉnh T cung cấp cho Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên các thông tin về việc xuất nhập cảnh của anh Hoàng Thái S, sinh năm 1996, đăng ký thường trú: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Tại Công văn số 5153/ PQLNXC ngày 16/12/2024 của Phòng Q - Công an tỉnh T cung cấp hiện không có thông tin về việc xuất nhập cảnh của công dân S.
Do anh S vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và thông báo theo quy định tại Đ180 Bộ luật tố tụng dân sự để anh S thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tuy nhiên anh S không chấp hành, không lên Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung của chị Á đối với anh.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Phú Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS, bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- + Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Á. Cho chị Nguyễn Ngọc Á được ly hôn anh Hoàng Thái S
- + Về con chung: áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung là là Hoàng Đăng K, sinh ngày 28/11/2018 và Nguyễn Hoàng Minh Đ, sinh ngày 06/11/2021 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu. Anh S được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- + Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
- + Án phí và quyền kháng cáo: chị Á phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện VKS phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án. HĐXX nhận định:
{1} Về thủ tục tố tụng
[1.1] thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Á khởi kiện xin ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung với bị đơn anh Hoàng Thái S, bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án đã tiến hành xác minh nhưng hiện nay không có căn cứ để xác định anh S đang sinh sống làm việc ở đâu, như vậy xác định anh S cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định đây là Tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh S vắng mặt, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng và thông báo theo quy định tại Đ180 Bộ luật tố tụng dân sự để anh S thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng anh S vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh S theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Á và anh Hoàng Thái S tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ngày 30/10/2017, được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xảy ra cãi vã, từ tháng 6/2022 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai, nay chị Á xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng anh S, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn để giải phóng cho nhau. Về phía anh S vắng mặt tại nơi cư trú, không cung cấp lời khai cho Tòa án. Toà án đã tiến hành hoà giải, cho các đương sự thời gian để có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh S không tham gia hòa giải, chị Á kiên quyết xin được ly hôn để giải phóng cho nhau
[5] Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau”. Tuy nhiên, quan hệ vợ chồng giữa chị Á và anh S đã không còn có tình nghĩa vợ chồng, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc chung trong gia đình, trên thực tế, chị Á và anh S đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay là vi phạm nghĩa vụ chung sống với nhau. Điều đó cho thấy anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc duy trì quan hệ hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, do vậy cần chấp nhận cho chị Á được ly hôn anh S là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Đăng K, sinh ngày 28/11/2018 và Nguyễn Hoàng Minh Đ, sinh ngày 06/11/2021, hiện con chung Nguyễn Hoàng Minh Đ đang ở cùng với chị Á, con chung Hoàng Đăng K đang ở cùng bố mẹ anh S. Khi ly hôn, chị Á đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con chung đến khi thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh S đang vắng mặt tại nơi cư trú, không biết địa chỉ cụ thể hiện nay đang sinh sống, làm việc ở đâu, do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị Á, giao 02 con chung cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế và có căn cứ pháp luật theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu sau khi ly hôn, anh S có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung thì các đương sự có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị Á không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu sau khi ly hôn, chị Á có yêu cầu thì có quyền khởi kiện để giải quyết trong vụ án khác.
[2.3]. Về Tài sản chung, công nợ chung: chị Á xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu sau khi ly hôn, chị Á, anh S có tranh chấp thì có quyền khởi kiện để giải quyết trong vụ án khác.
[2.4]. Án phí: Chị Á phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
[2.5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, 483 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Á.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc Á được ly hôn anh Hoàng Thái S.
-
Về con chung: Giao 02 con chung Hoàng Đăng K, sinh ngày 28/11/2018 và Nguyễn Hoàng Minh Đ, sinh ngày 06/11/2021 cho chị Nguyễn Ngọc Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động (hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật).
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
Anh S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con chung, yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật
- Tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
- Án phí: Chị Nguyễn Ngọc Á phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, biên lai thu số 0003993 ngày 21/10/2024. Xác nhận chị Á đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Á, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh S vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 13/2025/HNGĐ - ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
