|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày 10 - 4 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Song Tiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Ngọc Dình
Ông Đinh Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/HSST ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Bảo A, sinh năm 1990 tại tỉnh Long An;
Nơi cư trú: Số C, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Huỳnh Văn Đ và bà Trương Thị H; Có vợ là Cao Thị H1 đã ly hôn và chưa có con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần. Ngày 30 tháng 9 năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 24 tháng 01 năm 2023, Huỳnh Bảo A chấp hành xong án phạt tù.
Nhân thân:
Ngày 20 tháng 3 năm 2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 10 năm tù về tội “Giết người”. Ngày 26 tháng 01 năm 2015, chấp hành xong án phạt tù.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo đang chấp hành án, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1997 (có mặt).
Nơi cư trú: Số A, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
- Người làm chứng:
- Ông Huỳnh Quốc V, sinh năm 1985 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1996 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 2001 (vắng mặt);
- Ông Lê Bá T1, sinh năm 1982 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1998 (vắng mặt);
- Ông Phan Châu K, sinh năm 1998 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 1995 (vắng mặt);
- Bà Đặng Thu H2, sinh năm 1979(vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Số A, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số B, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số C, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số D, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số A, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số B, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số B, ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Long An. Nơi ở hiện tại: Quán nhậu A Đ2, địa chỉ: Số A, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số G, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Nơi cư trú: Số C, ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ ngày 22 tháng 9 năm 2024, bà Đặng Thu H2 là bạn gái sống chung như vợ chồng với bị cáo Huỳnh Bảo A đến nhà ông Nguyễn Văn G ngụ số A ấp C, xã A, huyện C để nhậu và nằm võng nghỉ lại tại nhà ông G, còn ông G cùng bạn bè đến nhà ông Huỳnh Quốc V cùng ngụ ấp C, xã A, huyện C. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, bà H2 điện thoại cho bị cáo Huỳnh Bảo A đến nhà ông G rước bà H2 về nhà bị cáo An ngủ. Sau đó, bị cáo A cùng ông Nguyễn Ngọc L và ông Huỳnh Văn N1 nhậu tại hành lang nhà bị cáo A, địa chỉ ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, ông G cùng ông V, ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Hữu N, ông Lê Bá T1, ông Nguyễn Thanh T2 và ông Phan Châu K nhậu tại quán A1, địa chỉ ấp C, xã A, huyện C do ông Nguyễn Minh Đ1 làm chủ quán. Lúc này, bị cáo A đang nhậu tại nhà và điện thoại hỏi ông G đang ở đâu, ông G trả lời đang nhậu ở quán A1. Bị cáo A lấy 01 con dao Thái Lan cán nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡi kim loại màu trắng dài 12cm, mũi nhọn để trong rổ phía dưới sào đồ gần cửa chính ra vào và 01 con dao Thái Lan (cán nhựa màu vàng, lưỡi kim loại mũi nhọn màu trắng, loại dao thường dùng gọt trái cây) trên bàn nhậu của nhà bị cáo A rồi bỏ vào túi quần sọt phía trước bên trái đang mặc. Sau đó, bị cáo A đi bộ đến quán A1 để tìm ông G.
Đến 18 giờ cùng ngày, bị cáo A vào quán A Đ2 dùng tay trái lấy 02 con dao trong túi quần phía trước bên trái ra cầm trên tay, đi về hướng ông G đang ngồi nhậu với bạn bè, chửi bới kêu ông G ra ngoài và nói: “Mầy ra đây tao nói mầy nghe nè G, mầy ra đây, mầy đéo chạy được tao đâu, mầy ra đây”. Sau đó, bị cáo A chuyển sang tư thế mỗi tay cầm 01 con dao, lúc ông G đứng dậy thì bị cáo A dùng tay trái kè bề sống của lưỡi dao vào cổ phía bên trái của ông G, tay phải bị cáo A cầm hờ 01 con dao. Bị cáo A vừa khống chế vừa đe dọa ông G “Đi ra đây, đi, tao cắt cổ chết mẹ mầy, đi”, khi bị cáo An kè ông G ra ngoài một đoạn thì dùng tay phải đang cầm dao đánh 01 cái theo hướng từ dưới lên trúng vào vùng miệng làm ông G bị dập môi chảy máu. Bị cáo A tiếp tục khống chế, kè ông G đến chỗ xe mô tô loại Wave màu trắng biển số 62H1-7896 của ông G đang đậu, yêu cầu ông G lên xe trước, sau đó bị cáo A lên ngồi phía sau xe của ông G buộc ông G chở bị cáo A từ quán A Đ2 về nhà bị cáo A quãng đường gần 900m. Khi ông G chở bị cáo A đến đoạn đường rẽ vào nhà bị cáo A (vừa qua bồn nước nhà bà Nguyễn Thị B, cách quán A Đ2 khoảng 85m) thì bị cáo A ném con dao trên tay trái đang kè vào cổ của ông G xuống ruộng thanh long phía bên trái và cất con dao đang cầm trên tay phải vào túi quần phía sau bên phải đang mặc. Lúc này, ông G đang điều khiển xe mô tô chở bị cáo A và tay trái của bị cáo A còn để trên vai ông G nên ông G không biết việc bị cáo A đã ném 01 con dao Thái Lan. Khi đến nhà bị cáo A, ông G đậu xe lại cho bị cáo A xuống xe trước, bị cáo A kêu ông G vào bên trong ngồi thì ông G đi vào hành lang ngồi chung bàn nhậu với ông Nguyễn Ngọc L (ông G ngồi quay mặt hướng ra ngoài đường), còn bị cáo A đi vào trong nhà cất 01 con dao ở trong túi quần phía sau bên phải lên kệ bếp, sau đó trở ra ngồi chung bàn nói chuyện lớn tiếng với ông G. Lúc này, bà Đặng Thu H2 đang ngủ trong phòng nghe được nên đi ra kêu bị cáo A vào ngủ, ông G thấy có cơ hội nên đứng dậy bỏ chạy ra đường C về nhà ông Nguyễn Thanh T. Khi ông G chở bị cáo A rời khỏi quán A Đ2 khoảng 05 phút, ông T lấy xe mô tô chở ông V từ quán A Đ2 vào nhà bị cáo A để xem ông G như thế nào. Khi đến nơi, ông G không có ở nhà bị cáo A nên ông V lấy xe của ông G đang đậu phía trước nhà bị cáo An chạy về quán A Đ2, còn ông T chạy về nhà thì gặp ông G, sau đó ông G nhờ ông T chở đến quán A Đ2 thì lực lượng Công an đến mời các bên làm việc theo quy định chung của pháp luật.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 319/KLTTCT-TTPY ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn G tại thời điểm giám định là: 00%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Không có cơ sở xác định hung khí gây nên.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSCT, ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Huỳnh Bảo A về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo Huỳnh Bảo A và phân tích hành vi phạm tội, xác định các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, mức độ hành vi vi phạm đối với bị cáo Huỳnh Bảo A, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bị cáo Huỳnh Bảo A phạm tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng khoản 1 Điều 157, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Bảo A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Bảo A.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao thái lan cán nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡi kim loại màu trắng dài 12cm (sắc 01 bên), mũi nhọn (đã qua sử dụng).
- Đối với 01 xe mô tô loại Wave màu trắng, biển số 62H1-7896 (đã qua sử dụng). Qua điều tra xác minh, xe này do ông Lê Văn K1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 03 tháng 9 năm 2024, ông Nguyễn Văn G mua xe mô tô trên của ông Lê Bá T1 (là con của ông K1, ông K1 chết năm 2024) để làm phương tiện đi lại nên được trả lại cho ông Nguyễn Văn G.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Huỳnh Bảo A chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Huỳnh Bảo A nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về sum hợp với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Bảo A xác định bị cáo đã thực hiện hành vi bắt, giữ ông G như Cáo trạng xác định là đúng. Bị cáo A khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 22 tháng 9 năm 2024, do ghen tuông tình cảm giữa bạn gái là bà Đặng Thu H2 với ông Nguyễn Văn G nên bị cáo mang theo 02 con dao Thái Lan đi từ nhà tại ấp C, xã A, huyện C đến quán nhậu A Đ2 ngụ cùng ấp, thực hiện hành vi dùng tay trái kè 01 con dao thái lan vào cổ phía bên trái của ông G và dùng tay phải đánh vào mặt làm ông G bị dập môi chảy máu để khống chế, buộc ông G sử dụng xe mô tô của ông G chở bị cáo từ quán A Đ2 về nhà của bị cáo đoạn đường gần 900m. Khi ông G chở bị cáo đến đoạn đường rẽ vào nhà của bị cáo (vừa qua bồn nước nhà bà Nguyễn Thị B, cách quán A Đ2 khoảng 85m) thì bị cáo ném con dao trên tay trái đang kè vào cổ của ông G xuống ruộng thanh long phía bên trái và cất con dao đang cầm trên tay phải vào túi quần phía sau bên phải đang mặc. Lúc này, ông G đang điều khiển xe mô tô chở bị cáo và tay trái của bị cáo còn để trên vai ông G nên ông G không biết việc bị cáo đã ném 01 con dao Thái Lan, thời gian bị cáo dùng dao kè vào cổ khống chế ông G từ quán A Đ2 đến lúc bị cáo ném con dao thái lan là khoảng 04 phút. Sau khi đến nhà bị cáo, lợi dụng sự sơ hở của bị cáo nên ông G đã bỏ chạy, thời gian ông Nguyễn Văn G ở nhà của bị cáo khoảng 02 phút.
[3] Xét lời khai nhận của bị cáo Huỳnh Bảo A tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường phù hợp các vật chứng đã thu giữ được trong vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa đã đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 09/CT-VKSCT, ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Huỳnh Bảo A về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
[4] Bị cáo Huỳnh Bảo A là người đã trưởng thành, biết rõ việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực xâm phạm đến quyền tự do thân thể, tự do cá nhân của con người được pháp luật bảo vệ là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì ghen tuông mù quán, bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo Huỳnh Bảo A thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho ông Phan Ngọc S vào ngày 28 tháng 5 năm 2024, đã bị Tòa án xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi bắt, giữ ông G là ngày 22 tháng 9 năm 2024 thì bị cáo chưa bị xét xử nên chưa đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm vì tái phạm nguy hiểm thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người nào đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trước đó do lỗi cố ý nhưng chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới cũng là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với lỗi cố ý thì được coi là tái phạm nguy hiểm.
- Người nào đã bị kết án 2 lần về bất kỳ tội danh nào, trong lần kết án thứ 2 người này đã bị áp dụng tình tiết tái phạm mà hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý sẽ được xác định là tái phạm nguy hiểm.
Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Bảo A là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do thân thể, tự do cá nhân của con người được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có một tiền án, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, có đủ thời gian để bị cáo lao động và học tập phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Huỳnh Bảo A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có ông nội tên Huỳnh Văn B1 là liệt sĩ, bà nội tên Võ Thị H3 là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng II, ông ngoại tên Trương Đình P và bà ngoại tên Nguyễn Thị B2 là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng III là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát xác định là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Bị cáo Huỳnh Bảo A hiện đang chấp hành hình phạt tù: 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Do đó, áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Bảo A.
[6] Đối với 01 xe mô tô loại Wave màu trắng, biển số 62H1-7896 (đã qua sử dụng) do ông Lê Văn K1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 03 tháng 9 năm 2024, ông Nguyễn Văn G mua xe mô tô trên của ông Lê Bá T1 (là con của ông K1, ông K1 chết năm 2024) để làm phương tiện đi lại nên trả lại cho bị hại Nguyễn Văn G.
[7] Đối với vật chứng 01 con dao Thái Lan cán nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡi kim loại màu trắng dài 12cm (sắc 01 bên), mũi nhọn (đã qua sử dụng) tịch thu tiêu hủy.
[8] Ông Nguyễn Văn G không yêu cầu bị cáo Huỳnh Bảo A bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
[10] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Bảo A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bảo A phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 157, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Bảo A 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự.
Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Huỳnh Bảo A 02 (hai) năm tù, buộc bị cáo Huỳnh Bảo A chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 30 tháng 9 năm 2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao Thái Lan cán nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡi kim loại màu trắng dài 12cm (sắc 01 bên), mũi nhọn (đã qua sử dụng).
Trả cho ông Nguyễn Văn G 01 xe mô tô loại Wave màu trắng, biển số 62H1-7896 (đã qua sử dụng).
Vật chứng tiêu hủy, tài sản trả ông Nguyễn Văn G hiện cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An đang quản lý thể hiện tại Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKSCT ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng vụ án ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.
- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Bảo A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, ông Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Diệp Song T3 |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN về hình sự (bắt, giữ người trái pháp luật)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Bắt, giữ người trái pháp luật)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: uỳnh Bảo An “Bắt, giữ người trái pháp luật”
