TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 08 - 4 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Trường Sơn
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Bích và bà Tạ Thị Phương Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Phương Huyền - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa:
- Bà Trương Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- NGUYỄN VĂN L, sinh năm 1966.
- BÙI VĂN C, sinh năm 1983.
- BÙI VĂN L1, sinh năm 1969.
- BÙI THỊ L2, sinh năm 1993.
- HỒ VĂN T1, sinh năm 1959.
- TỪ THỊ HƯƠNG, sinh năm 1958.
Nơi cư trú: phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Có bố là Nguyễn Thành H (đã chết) và mẹ là Lưu Thị N; Có vợ là Lã Thị Y và 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1998. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con út trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 1155 – QĐ/HU ngày 22/11/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện Ủ. Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 04/11/2024 đến nay, tại Trại giam công an tỉnh H, có mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Viên chức; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Có bố là Bùi Văn T và mẹ là Bùi Thị N1; Có vợ là Bùi Thu H1 và 01 con sinh năm 2017. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 264 – QĐ/UBKTHU ngày 13/3/2025 của Ủy ban kiểm tra huyện Ủ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: xóm Á, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Nguyên phó Chủ tịch UBND xã Â; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Có bố là Bùi Văn C1 (đã chết) và mẹ là Bùi Thị D; Có vợ là Bùi Thị X và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1994. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 1158 – QĐ/HU ngày 11/10/2024 của Ủy ban kiểm tra Ủ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: phố R, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Công chức địa chính xã Â; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Có bố là Bùi Văn L3 và mẹ là Bùi Thị B; Có chồng là Bùi Văn V và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 265 – QĐ/UBKTHU ngày 13/3/2025 của Ủy ban kiểm tra huyện Ủ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: xóm Đ, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Trưởng xóm; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Có bố là Hồ Văn N2 (đã chết) và mẹ là Hoàng Thị H2 (đã chết); Có vợ là Doãn Thị H3 và 03 con, con lớn sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 1986. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 126 – QĐ/ĐU ngày 25/10/2024 của Ban thường vụ Đảng Ủy xã Â. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: xóm Đ, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Có bố là Từ Văn V1 (đã chết) và mẹ là Từ Thị B1; Có chồng là Nguyễn Anh T2 và 02 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1988. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 182 – QĐ/UBKTHU ngày 21/12/2023 của Ủy ban kiểm tra Ủ. Hiện bị cáo đang bị chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Quyết định số 282/QĐ-UB, ngày 21/02/2003 của UBND tỉnh H, về việc giao đất cho Ủy ban nhân dân huyện Ủ quy hoạch khu dân cư, trong đó có nội dung: “Thu hồi 20.920 m² đất nông nghiệp tại xã Â, huyện L, hiện do Nông trường 2-9 quản lý, để bàn giao cho Ủy ban nhân dân huyện Ủ quy hoạch khu dân cư...”; Quyết định số 01/QĐ-CT, ngày 21/4/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H, về việc giải quyết khiếu nại của tập thể công nhân Đội 5, N tại xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Quyết định số 2066/QĐ-UBND, ngày 23/10/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh H về việc thu hồi đất do Công ty TNHH MTV B3 quản lý, không có nhu cầu sử dụng để giao Ủy ban nhân dân huyện Ủ quản lý đưa đất vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 2039/QĐ-UBND, ngày 23/9/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh H về việc phê duyệt phương án sử dụng đất đối với Công ty TNHH Một thành viên B3; Quyết định số 670/QĐ-UBND, ngày 30/3/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh H, về việc thu hồi đất do Công ty TNHH MTV B3 quản lý, không có nhu cầu sử dụng để giao Ủy ban nhân dân huyện Ủ quản lý, quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích.
Ngày 13/4/2021, Chủ tịch UBND huyện Ủ, tỉnh Hòa Bình ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND, về việc thành lập Tổ công tác rà soát, hướng dẫn lập hồ sơ công nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất N trả ra tại Đội 5, xã Â, huyện L, Hòa Bình.
Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 3991, Bùi Văn L1 là Phó Chủ tịch UBND xã Â; Bùi Thị L2, là Công chức địa chính xã Â; Hồ Văn T1, là T3 xóm Đội 5; Từ Thị H4, là Bí thư Chi bộ xóm Đội 5, trực tiếp hướng dẫn cho các hộ dân tại xóm Đ 5 có đề nghị lập hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), đồng thời tiến hành xác định nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của các hộ gia đình thông qua cuộc họp lấy ý kiến khu dân cư.
Ngày 09/6/2021, tại Nhà văn hóa xóm Đ, Hồ Văn T1 chủ trì cuộc họp lấy ý kiến về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với những thửa đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận cho 03 hộ gia đình trong đó có hộ bà Trần Thị D1. Các thành phần tham gia gồm có: Hồ Văn T1, Bùi Văn L1, Bùi Thị L2, Từ Thị H4 và một số người dân đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất gồm có: ông Lã Hữu V2, bà Bùi Thị N3 và bà Lại Ánh T4. Tại cuộc họp các thành phần tham gia thống nhất xác định thời điểm bà Trần Thị D1 có nhà ở và sử dụng đất ổn định là từ năm 1994.
Sau khi biết được nội dung cuộc họp trên, bà Trần Thị D1 đã trực tiếp gặp Từ Thị H4, Hồ Văn T1 và đưa ra giấy viết tay mua bán đất giữa chồng bà là ông Nguyễn Ngọc K với gia đình ông Vũ Viết C2 tại thời điểm năm 1990 và bà D1 yêu cầu Ban Q lập hồ sơ lại, thể hiện gia đình bà D1 có nhà ở và sử dụng đất ổn định trước năm 1993 để được miễn nộp tiền sử dụng đất. Để tránh xung đột gây mất trật tự khu dân cư, ảnh hưởng đến việc lập hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình tại xóm Đ, đồng thời làm lợi cho bà D1 trong việc lập hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ, nên Từ Thị H4 và Hồ Văn T1 đã gặp và trao đổi với Bùi Thị L2, thống nhất việc gia đình bà D1 có nhà ở và sử dụng đất ổn định trước năm 1993, để lập hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ cho bà D1. Sau khi thống nhất, L2 đã lập hồ sơ của bà Trần Thị D1 gồm: Đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất ghi ngày 08/12/2021. Những tài liệu này, từ “PHẦN KỂ KHAI CỦA NGƯỜI ĐĂNG KÝ” đến “XÁC NHẬN CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN” đến “Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư” đều được viết cùng một nội dung: “Nguồn gốc sử dụng đất: Sử dụng ổn định làm nhà ở và trồng cây lâu năm từ tháng 02/1993”;“Thời điểm bắt đầu sử dụng vào mục đích đăng ký, đề nghị cấp Giấy chứng nhận từ năm: tháng 02/1993;Tình trạng tranh chấp đất đai: Sử dụng ổn định, không tranh chấp”...Khi lập xong các thủ tục hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của bà D1, L2 có đưa P lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc về thời điểm sử dụng đất của bà D1 lập ngày 08/12/2021 cho Từ Thị H4 để H4 đưa cho các cá nhân là Hồ Văn T1, ký dưới mục “Chủ trì cuộc họp”, Bùi Văn L1 ký dưới mục “Xác nhận của UBND xã ”; Vũ Viết C2, Đinh Thị Y1, Từ Thị H4 ký xác nhận là những người cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất của bà Trần Thị D1.
Sau đó, Bùi Thị Lương T5 hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của bà D1 cho Bùi Văn L1, Phó chủ tịch UBND xã Â ký các thủ tục Giấy xác nhận về việc kết thúc niêm yết công khai hồ sơ công nhận quyền sử dụng đất; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất cấp cho bà Trần Thị D1. Đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất xác nhận nội dung: “...2. Nguồn gốc sử dụng đất sử dụng ổn định làm nhà ở và trồng cây lâu năm từ tháng 02/1993; 3. Thời điểm sử dụng đất vào mục đích đăng ký: tháng 02/1993...”. Khi Bùi Văn L1 xem hồ sơ, thấy đăng ký cấp GCNQSDĐ của bà Trần Thị D1 có nội dung xác định về nguồn gốc sử dụng đất làm nhà ở từ tháng 02/1993 không đúng với thực tế nội dung cuộc họp lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của bà D1. Lích có hỏi L2 và được giải thích lý do ghi sai nội dung về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất trong hồ sơ của bà D1 là do bà D1 cung cấp giấy mua bán đất với gia đình ông Vũ Viết C2 ghi năm 1990, mặt khác L2 đã thống nhất với Ban Q, xã Â ghi nội dung xác nhận về việc bà D1 sử dụng đất và làm nhà trước ngày 15/10/1993 để nhằm làm lợi cho bà D1 trong việc đăng ký cấp GCNQSDĐ. Ngày 23/2/2022, Bùi Thị L2 đem hồ sơ của bà Trần Thị D1 nộp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND huyện Ủ.
Căn cứ Quyết định số 147/QĐ-VPĐKĐĐ ngày 04/10/2021của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H, về việc phân công nhiệm vụ đối với viên chức, người lao động Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L. Nguyễn Văn L, là Giám đốc, phân công cho Bùi Văn C giải quyết Hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của các hộ gia đình, cá nhân tại xóm Đ, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kiểm tra hồ sơ, C báo cáo L về việc do số lượng hồ sơ thụ lý lớn, nhiều hồ sơ bị sai sót nội dung, cần phải có người hỗ trợ để đảm bảo tiến độ giải quyết nên L đồng ý cho liên hệ với Bùi Thị L2 và Từ Thị H4 đến cùng C hoàn thiện các Hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của các hộ gia đình, cá nhân. Bùi Văn C đã hướng dẫn cho Bùi Thị L2, Từ Thị H4 viết nội dung tại phần III. Ý KIẾN CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI, Mẫu số 04a/ĐK xác nhận nội dung: “hồ sơ đầy đủ, đúng quy định, đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 1, Điều 20, Nghị định 43/2014/NĐ-CP” để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị D1.
Đến ngày 25/02/2022, Bùi Văn C ký dưới mục “Người kiểm tra” và Nguyễn Văn L, ký dưới mục “Giám đốc” tại phần III. Ý KIẾN CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI, Mẫu số 04a/ĐK xác nhận nội dung trên để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D1.
Ngày 28/02/2022, Nguyễn Văn L ký Phiếu chuyển thông tin địa chính số 51/PCTTĐC đối với thửa đất cấp cho bà Trần Thị D1 gửi tới Chi Cục thuế khu vực L - Y để xác định số tiền sử dụng đất bà D1 có nghĩa vụ thực hiện với Nhà nước. Ngày 10/3/2022, Chi Cục thuế khu vực L4 - Y ban hành Thông báo về lệ phí trước bạ nhà đất, theo đó số tiền lệ phí trước bạ bà D1 phải nộp để được cấp Giấy chứng nhận là: 3.748.755 đồng và Thông báo về tiền sử dụng đất số LTB2230515-TL0000500/TB-CCT với số tiền sử dụng đất mà bà Trần Thị D1 phải thực hiện là 0 đồng, thuộc trường hợp “Công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở trước 15/10/1993, không có giấy tờ theo khoản 1, Điều 100 Luất Đất đai, không vi phạm Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP”.
Đến ngày 15/6/2022, sau thời điểm Bùi Văn C và Nguyễn Văn L xác nhận nội dung: “hồ sơ đầy đủ, đúng quy định, đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 1, Điều 20, Nghị định 43/2014/NĐ-CP” để đề nghị cấp GCNQSDĐ cho bà Trần Thị D1 là 111 ngày (từ ngày 25/02/2022 đến ngày 15/6/2022); sau thời điểm Nguyễn Văn L ký Phiếu chuyển thông tin địa chính số 51/PCTTĐC đối với thửa đất cấp cho bà D1 gửi tới Chi Cục thuế khu vực L - Y là 108 ngày (từ ngày 28/02/2022 đến ngày 15/6/2022); sau thời điểm Chi C3 thuế khu vực L - Y có Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất và Thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với thửa đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận cho bà Trần Thị D1 là 100 ngày (từ ngày 10/3/2022 đến ngày 15/6/2022) và sau thời điểm bà D1 nộp lệ phí trước bạ nhà, đất là 86 ngày (từ ngày 24/03/2022 đến ngày 15/6/2022), thì mới thiết lập Biên bản xác minh thực địa theo quy định tại khoản 3. Điều 70 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
Tại điểm d, khoản 3, Điều 70, Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định “Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký”;
Ngày 20/01/2024, Cơ quan điều tra đã phối hợp cùng Phòng Tài nguyên Môi trường huyện L; Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L; UBND xã Â; Chủ sử dụng đất là bà Trần Thị D1 và một số chủ sử dụng đất cùng thời điểm, gồm cả các ông, bà đã từng tham gia cuộc họp ngày 09/6/2021 tại Nhà văn hóa xóm Đ để xác định thời điểm làm nhà ở của hộ bà Trần Thị D1 được thể hiện trong sổ ghi chép của Hồ Văn T1 và Từ Thị H4 là: ông Lã Hữu V2, bà Lại Ánh T4 và ông Nguyễn Công H5, là những người có tên trong Biên bản làm việc ngày 20/10/2021 về xác định thời điểm có nhà trên đất của bà Trần Thị D1. Kết quả xác định, đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 45 cấp Giấy chứng nhận cho bà Trần Thị D1 được mua lại từ ông Vũ Viết C2, Công an viên, Phó xóm Đội 5 vào khoảng năm 1990. Đến năm 1994, nhà bà D1 xây xong nhà để ở. Cụ thể: nhà bà D1 xây sau nhà bà Lại Ánh T4. Bà Lại Ánh T4 là hàng xóm sát với nhà bà D1, nhà bà T4 xây vào năm 1994.
Ngày 08/3/2024, UBND huyện Ủ ban hành Văn bản số: 401/UBND-TNMT về việc giải thích làm rõ nội dung Công văn số: 222/UBND-TNMT ngày 02/2/2024 của UBND huyện Ủ xác định như sau: “Theo giấy xin nhượng bán nhà, đất của ông Vũ Văn C4 cho ông Nguyễn Ngọc K (là chồng của bà Trần Thị D1) thể hiện ngày xác lập văn bản là ngày 30/6/1990 nhưng không có cơ quan có thẩm quyền chứng thực, không thể hiện rõ loại đất, việc mua bán chuyển nhượng giữa ông Vũ Văn C4 và ông Nguyễn Ngọc K (chồng bà Trần Thị D1) mặc dù là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên nhưng chưa phù hợp với quy định của pháp luật; mặt khác, thời điểm từ năm 1990 đến năm 1993 bà Trần Thị D1 chưa sử dụng thửa đất để ở, đến năm 1993 bà Trần Thị D1 mới xây dựng nhà, vào đầu năm 1994 mới hoàn thành bắt đầu sử dụng thửa đất để ở từ năm 1994. Như vậy, thửa đất số 16, tờ bản đồ số 45 xã Â cấp cho bà Trần Thị D1 được coi là sử dụng ổn định vào mục đích chính là đất ở theo quy định tại khoản 1, Điều 21, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và thời điểm sử dụng đất ổn định được tính từ năm 1994”.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Hồ Văn T1: 01 (một) Quyển sổ bìa màu đen ghi KDC: 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 (do Hồ Văn T1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra) và thu giữ của Từ Thị H4: 01 (một) Quyển sổ bìa màu đen (thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của bị can). Trong các quyển sổ trên có ghi nội dung họp ngày 09/6/2021, tại Nhà văn hóa xóm Đ, lấy ý kiến về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với những thửa đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận cho 03 hộ gia đình trong đó có hộ bà Trần Thị D1. Các thành phần tham gia thống nhất xác định thời điểm bà Trần Thị D1 có nhà ở và sử dụng đất ổn định là từ năm 1994.
Tại Bản kết luận giám định số: 87/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: “(1)Chữ viết tại tờ đánh số 34/75 trong quyển sổ bìa đen có ghi dòng chữ BUSINESS (Ký hiệu A1) với chữ viết của Từ Thị H4 trên Bản tự khai /bản tường trình và biên bản thu mẫu chữ ký, chữ viết phục vụ công tác giám định ngày 09/12/2023 (Ký hiệu M1, M2) do cùng một người viết ra; (2) Chữ viết tại tờ đánh số 48/112 trong quyển sổ bìa màu đen có ghi dòng chữ KDC: 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 (Ký hiệu A2) với chữ viết của Hồ Văn T1 trênBản tự khai /bản tường trình và biên bản thu mẫu chữ ký, chữ viết phục vụ công tác giám định ngày 13/01/2024 (Ký hiệu M3, M4) do cùng một người viết ra”.
Tại Bản kết luận giám định số: 109/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: “(1) Chữ viết mực màu xanh nội dung: “Hồ sơ đầy đủ đúng quy định, đủ điều kiện cấp GCNQSD đất theo khoản 1 điều 20 NĐ 43/2014 NĐ-CP” tại mục “III. Ý KIẾN CỦA CƠ QUAN ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI” trên 04 Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (ký hiệu từ A1 đến A4) với chữ viết của Từ Thị H4 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1) do cùng một người viết ra; (2) Chữ số tại dòng nội dung: “Ngày 25 tháng 2 năm 2022” trong ô Người kiểm tra và ô Giám đốc trên 04 Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (ký hiệu từ A1 đến A) với chữ viết, chữ số của Từ Thị H4 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1) do cùng một người viết ra; (3) Chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Văn C tại mục Người kiểm tra trên 04 Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (ký hiệu từ A1 đến A) với chữ ký, chữ viết của Bùi Văn C trên Biên bản thu mẫu chữ ký, chữ viết phục vụ công tác giám định ngày 28/01/2024 (ký hiệu M2) do cùng một người ký và viết ra”.
Chi cục thuế khu vực L4 - Y xác định việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của bà Trần Thị D1 đối với thửa đất kê khai cấp Giấy chứng nhận và được cung cấp: (1)Nếu thời điểm có nhà ở trên đất của người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bà Trần Thị D1) trước ngày 15/10/1993, số tiền sử dụng đất phải nộp là: 0 đồng; (2)Nếu thời điểm có nhà ở trên đất của người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bà Trần Thị D1) từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/07/2004, số tiền sử dụng đất phải nộp là: 374.875.500 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HDĐG ngày 30/01/2024, kết luận: “(1) Căn cứ tại Quy định chi tiết mốc giới các khu vực định giá các loại đất các xã, thị trấn trên địa bàn huyện L năm 2020-2024 kèm theo Quyết định số 81/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của UBND huyện Ủ ban hành Quy định bảng giá các loại đất năm 2020-2024 trên địa bàn huyện L, các thửa đất trong đó có thửa đất 16, tờ bản đồ 45 tại xóm Đ, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình thuộc khu vực 1; (2) Đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 45 tại xóm Đ, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình, thời điểm định giá đất ngày 22/08/2022 tại biểu số 03, Biểu số 07 Quyết định số 48/2021/QĐ- UBND ngày 25/08/2021 của UBND tỉnh H, diện tích 334,3 m², thuộc khu vực 1, vị trí 1: 162,9 m², giá đất là 3.500.000 đồng/m² ; vị trí 2: 137,1 m², giá đất là: 1.310.000 đồng/m²; đất trồng cây lâu năm vị trí 1: 34,3 m², giá đất 60.000 đồng/m2”.
Như vậy, việc xác định không đúng thời điểm sử dụng đất của bà Trần Thị D1 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 45 tại xóm Đ, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình đã gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền là: 374.875.500đ (Ba trăm bảy mươi tư triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, năm trăm đồng).
Cáo trạng số: 16/CT-VKSHB-P1 ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình truy tố: Nguyễn Văn L, Bùi Văn C, Bùi Văn L1, Bùi Thị L2, Hồ Văn T1, Từ Thị H4 về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điểm c khoản 2 Điều 356 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn L1, Bùi Thị L2, Hồ Văn T1.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Từ Thị H4.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có thời gian thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025. Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm nào khác.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có thời gian thử thách, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn L1 từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có thời gian thử thách, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- - Xử phạt bị cáo Bùi Thị L2 từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có thời gian thử thách, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- Xử phạt bị cáo Hồ Văn T1 từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có thời gian thử thách, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- Xử phạt bị cáo Từ Thị H4 từ 24 đến 27 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù tại Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Buộc bị cáo H4 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án, thời hạn tù được tính từ ngày 15/12/2023.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn L, Bùi Văn C, Bùi Văn L1, Bùi Thị L2, Hồ Văn T1 cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo khắc phục hậu quả.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về pháp luật tố tụng.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi các bị cáo đã thực hiện:
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở khẳng định: Các bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình trong quản lý đất đai đã cùng nhau xác định nguồn gốc sử dụng đất của hộ gia đình bà Trần Thị D1 không đúng thời điểm, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 374.875.500 đồng, đây là số tiền bà D1 phải nộp khi được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSD đất.
Như vậy, đã đủ chứng cứ để kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự, cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân người pham tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những gây thiệt hại về tài sản và xâm hại đến hoạt động đúng đắn trong công tác quản lý Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về quản lý đất đai. Vì vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội đối với các bị cáo.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có tổ chức hay sự câu kết chặt chẽ, tuy nhiên Hội đồng xét xử cần phải đánh giá tính chất vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt.
Đối với Nguyễn Văn L và Bùi Văn C: Các bị cáo đều biết, nhận thức rõ trường hợp hộ bà Trần Thị D1 thuộc trường hợp cần thiết phải xác minh thực địa do: Thuộc trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu và không có giấy tờ về đất đai; là đất ở nên có giá trị cao, cần xác định công trình, tình trạng tranh chấp giữa các hộ. Tuy nhiên các bị cáo vẫn ký phiếu chuyển thông tin địa chính để nộp thuế trong khi chưa tiến hành xác minh thực địa để xác định chính xác thời điểm sử dụng đất của bà Trần Thị D1. Đây là căn cứ để xác định nghĩa vụ nộp thuế của bà D1 đối với Nhà nước. Do vậy các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương đương nhau và cao hơn các đồng phạm khác.
Đối với Bùi Văn L1 là người thay mặt UBND xã Â xác nhận thời điểm sử dụng đất ổn định làm nhà ở của bà D1 không đúng thực tế. Bùi Thị L2 là cán bộ địa chính xã, nhưng không trực tiếp kiểm tra hồ sơ và tham mưu xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất sai sự thật, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm sau bị cáo L, bị cáo C.
Đối với Hồ Văn T1 là trưởng xóm, trực tiếp chủ trì cuộc họp lấy ý kiến của khu dân cư, đây cũng là tiền đề để các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội tiếp theo, do đó bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Đối với Từ Thị H4 đồng phạm với vai trò giúp sức, chỉ tham gia với hành vi ký vào phiếu lấy ý kiến khu dân cư nên bị cáo phải chịu mức hình phạt thấp hơn các bị cáo khác là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, trong đó Nguyễn Văn L khắc phục số tiền là 73.000.000đ, Bùi Thị L2 khắc phục số tiền là 73.000.000đ, Bùi Văn C, Bùi Văn L1, Hồ Văn T1 mỗi bị cáo khắc phục 72.975.000đ, Từ Thị H4 khắc phục số tiền là 10.000.000 đồng. Bị cáo L trong quá trình công tác có nhiều năm được công nhận là Chiến sỹ thi đua cơ sở. Các bị cáo L1, L2, H4, T1, C có nhiều Thư cảm ơn, Thư khen của Công an xã Â1, Công an xã V và Công an thị trấn V, huyện L vì đã tích cực hợp tác phát hiện tội phạm trong các vụ án, vụ việc tại địa bàn.
Ngoài ra các bị cáo Bùi Văn C, Hồ Văn T1, Từ Thị H4 có nhiều thành tích trong quá trình công tác, được tặng thưởng nhiều giấy khen; bị cáo Nguyễn Văn L có bố đẻ là ông Nguyễn Thành H, là người có công với cách mạng; bị cáoTừ Thị H6 có mẹ đẻ là bà Từ Thị B1, được tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhất; bố đẻ là ông Từ Văn V1 là thương binh; gia đình bị cáo Bùi Thị L2 có người thân là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba; bị cáo Hồ Văn T1 đã nhiều tuổi, bản thân mắc nhiều bệnh đang phải điều trị tích cực.
Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, v, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho từng bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Trong vụ án này các bị cáo đều lần đầu phạm tội, chủ động khắc phục toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng chính sách khoan hồng được quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi lượng hình. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly Nguyễn Văn L, Bùi Văn C, Bùi Văn L1, Bùi Thị L2, Hồ Văn T1 ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ để cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đối với bị cáo Từ Thị H4 hiện đang chấp hành hình phạt tù, nay cần tổng hợp với Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về nội dung khác trong vụ án:
Đối với ông Vũ Viết C2 và bà Đinh Thị Y1 là người ký tên vào Phiếu lấy ý kiến khu dân cư với tư cách chủ sử dụng đất cùng thời điểm; Ông Bùi Văn N4 là Chủ tịch U người ký xác nhận dưới mục “Xác nhận của UBND xã”. Quá trình điều tra xác nhận các cá nhân trên không biết, không được bàn bạc tham gia thực hiện hành vi phạm tội hoặc động cơ cá nhân khác nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
Ngày 10/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã ban hành văn bản số: 189/CSKT về việc kiến nghị khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với UBND huyện Ủ là phù hợp, đúng quy định.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền các bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả hiện đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L, Bùi Văn C, Bùi Văn L1, Bùi Thị L2, Hồ Văn T1, Từ Thị H4 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025. Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm nào khác.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn L1 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị L2 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn T1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/4/2025.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Từ Thị H4 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù tại Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Buộc bị cáo H4 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/12/2023.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L, Bùi Văn C cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Bùi Thị L2, Hồ Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Bùi Văn L1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Văn L, Bùi Văn C, Bùi Văn L1, Bùi Thị L2, Hồ Văn T1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 30.000.000 đồng, theo Ủy nhiệm chi được lập giữa Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai số 0002946 ngày 24/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 62.975.000 đồng theo Biên lai số 0002947 ngày 24/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 62.975.000 đồng theo Biên lai số 0002953 ngày 24/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 62.975.000 đồng theo Biên lai số 0002952 ngày 24/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 63.000.000 đồng theo Biên lai số 0002950 ngày 26/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai số 0002949 ngày 25/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 53.000.000 đồng theo Biên lai số 0002945 ngày 20/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai số 0002941 ngày 06/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai số 0002942 ngày 06/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Trường Sơn |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Vào hồi
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Lâm + ĐP " Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ"
