Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN SƠN TRÀ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:13/2025/DSST-ST

Ngày 04.4.2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng

dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đồng Tịnh và bà Vũ Thị Lệ Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2025/TLST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-DSST ngày 07/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-DS ngày 20/3/2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T1 (T2). Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T, E phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P, chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lí nợ khách hàng khách hàng cá nhân (giấy ủy quyền số 02/2023/UQ-TPB.HĐQT ngày 30-5-2023). Người được ủy quyền tham gia tố tụng: bà Hồ Thị Thanh N, bà Trương Thị H, bà Lê Thị T, ông Trần Duy Q, ông Đinh Văn N1, ông Trần Tấn H1; Địa chỉ liên hệ: 460 đường N, phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Ông Q có mặt.
  • * Bị đơn: Ông Lê Văn H2, sinh năm 1999. Địa chỉ: K N, tổ C phường T, quận S, Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 06/03/2023, ông Lê Văn H2 có đề nghị mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng thương mai cổ phần T3 (T4) thông qua hình thức trực tuyến (online) theo quy định của T4. Sau khi đánh giá khách hàng, ngày 06/03/2023 T4 đã chấp thuận đề nghị của ông Lê Văn H2, đồng thời phát hành cho ông Lê Văn H2 một thẻ tín dụng với thông tin: Số thẻ: 498796xxxxxx5304; Loại thẻ: Thẻ tín dụng quốc tế T4 Evo hạng Silver; Hạn mức thẻ tín dụng: 36,000,000 đồng; Mục đích: Thanh toán, tiêu dùng; Lãi suất áp dụng: Lãi suất cho vay trong hạn (lãi giao dịch): 39,60%/năm. (Căn cứ Quyết định số 1404/2022/QĐ-TPB.RB ngày 05/12/2022 của T4). Nguyên tắc tính lãi giao dịch: (Căn cứ M (a) – Chương II - Phụ lục 01 - Sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân số 026/2022/SP-TPB.RB ngày 15/08/2022)

  • +Đối với các giao dịch phải chịu lãi theo quy định này, tiền lãi được tính trên dư nợ giao dịch của KH và thời gian vay thực tế (từ ngày các giao dịch được cập nhật thành công vào hệ thống quản lý Thẻ T4 đến ngày KH hoàn trả hết dư nợ);Tiền lãi được tính theo ngày, được cộng dồn và hạch toán thu vào ngày sao kê;Lãi trong hạn được T4 quy định trong từng thời kỳ.
  • -Lãi quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.Nguyên tắc tính lãi quá hạn: (Căn cứ Mục 9.2 (b) – Chương II - Phụ lục 01 - Sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân số 026/2022/SP-TPB.RB ngày 15/08/2022).Vào ngày đến hạn thanh toán, KH không trả nợ hoặc trả ít hơn giá trị thanh toán tối thiểu thì Ngày sau ngày đến hạn thanh toán là ngày bắt đầu quá hạn, KH phải trả phí chậm thanh toán theo quy định của T4 và: Nếu số ngày quá hạn dưới 60 ngày: KH sẽ chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đối với số tiền thanh toán tối thiểu chưa trả hết của kỳ sao kê gần nhất kể từ ngày bắt đầu quá hạn đến ngày KH hoàn trả hết dư nợ quá hạn. Nếu số ngày quá hạn từ 60 ngày trở lên: KH sẽ phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đối với toàn bộ dư nợ Thẻ chưa trả hết của kỳ sao kê gần nhất kể từ ngày bắt đầu quá hạn đến ngày KH hoàn trả hết dư nợ quá hạn.
  • -Lãi chậm trả: 4,4% số tiền chậm thanh toán (Căn cứ Phụ lục 03: Biểu phí Thẻ tín dụng quốc tế T4 - Quyết định số 1427/2023/QĐ-TPB.RB ngày 08/11/2023 của T4). Nguyên tắc tính lãi: (Căn cứ M (c) – Chương II - Phụ lục 01 - Sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân số 026/2022/SP-TPB.RB ngày 15/08/2022).Được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên số tiền chậm trả nợ; Nếu số ngày quá hạn dưới 60 ngày: KH phải chịu khoản tiền phí do chậm trả nợ số tiền thanh toán tối thiểu chưa trả hết của kỳ sao kê gần nhất tại ngày quá hạn; Nếu số ngày quá hạn từ 60 ngày trở lên: KH phải chịu khoản tiền phí do chậm trả nợ trên toàn bộ dư nợ Thẻ chưa trả hết của kỳ sao kê gần nhất tại ngày quá hạn.
  • -Ngày mở thẻ: 06/03/2023; Thời hạn sử dụng thẻ: Từ ngày 06/03/2023 đến ngày 31/03/2028.
  • -Ngày sao kê: Ngày 20 hàng tháng, T4 thực hiện sao kê Thẻ tín dụng quốc tế T4 VISA trong đó liệt kê toàn bộ giao dịch Thẻ KH đã thực hiện và được tổ chức Thẻ quốc tế quyết toán trong kỳ (từ ngày 21 tháng trước đến ngày 20 tháng gửi sao kê) và gửi sao kê cho KH qua địa chỉ thư điện tử KH đăng ký với T4 được lưu trên hệ thống thẻ của T4 tối đa 05 ngày từ sau ngày 20 hàng tháng.
  • -Ngày đến hạn thanh toán: Ngày 05 hàng tháng hoặc ngày làm việc tiếp theo nếu ngày đến hạn thanh toán trùng vào ngày nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ), Chủ Thẻ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ hoặc ít nhất bằng số tiền thanh toán tối thiểu ghi trên sao kê.

Quá trình thực hiện Hợp đồng:Trong quá trình sử dụng thẻ, từ lúc mở thẻ cho đến nay, tổng số tiền ông Lê Văn H2 đã giao dịch bằng thẻ là 116,094,801 đồng; Số tiền ông Lê Văn H2 thanh toán cho T4 là 82,876,828 đồng, bao gồm số tiền gốc: 81,565,481 đồng; lãi, phí: 1,311,347 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo khoản 1 Điều 6 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế T4, số hiệu 026/2022/SP-TPB.RB).

Từ ngày 05/02/2024, ông Lê Văn H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại T4. T4 đã làm việc, gửi thông báo nhắc nợ nhưng không nhận được sự hợp tác trả nợ từ ông Lê Văn H2. Việc vi phạm nghĩa vụ của ông Lê Văn H2 như trên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của T4. Do ông Lê Văn H2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 06/05/2024 T4 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. (Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế T4, số hiệu 026/2022/SP-TPB.RB).

Tạm tính đến ngày 20/02/2025 (kỳ sao kê 02/2025), ông Lê Văn H2 còn nợ T4 số tiền cụ thể là: Nợ gốc thẻ: 34,529,320 đồng; Nợ lãi trong hạn: 13,014,359 đồng; Nợ lãi quá hạn: 51,324,937 đồng. Tổng cộng: 98,868,616 đồng

Nay Ngân hàng TMCP T1 đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau: Buộc ông Lê Văn H2 thanh toán ngay cho T4 tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/02/2025 (kỳ sao kê 02/2025) là: 98.868.616 đồng (Chín mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm mười sáu đồng). Trong đó Nợ gốc thẻ: 34.529.320 đồng; Nợ lãi trong hạn: 13.014.359 đồng; Nợ lãi quá hạn: 51.324.937 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi ông Lê Văn H2 thanh toán hết các nghĩa vụ cho T4;

* Bị đơn ông Lê Văn H2 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của ông Lê Văn H2 trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà:

  • - Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho đến phiên toà xét xử. Nguyên đơn chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
  • -Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T1 đối với ông Lê Văn H2 là có cơ sở căn cứ Điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng có đủ cơ sở đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng TMCP T1 đối với Lê Văn H2.
  • - Buộc ông Lê Văn H2 phải trả cho T4 số tiền nợ là 98.868.616 đồng (Chín mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm mười sáu đồng). Trong đó N2 gốc: 34.529.320 đồng; lãi trong hạn: 13.014.359 đồng; lãi quá hạn: 51.324.937 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi ông Lê Văn H2 thanh toán hết các nghĩa vụ cho T4;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa Ngân hàng TMCP T1 và ông Lê Văn H2 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Ông Lê Văn H2 là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn H2.

[2] Về nội dung vụ án:

Ngày 06/3/2023, ông Lê Văn H2 ký có đề nghị mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng thương mai cổ phần T3 (T4) thông qua hình thức trực tuyến (online) theo quy định của T4. Theo đó hai bên cam kết đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cùng với mẫu đơn này tạo nên hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng TMCP T1 đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Lê Văn H2 với hạn mức sử dụng là 36.000.000 đồng dưới hình thức hạn mức tín dụng để thanh toán, tiêu dùng. Ông Lê Văn H2 được Ngân hàng thông báo về mức lãi suất cụ thể là 33,60%/năm (Lãi suất trong hạn) và được T4 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N3 về lãi suất cho vay.

Căn cứ vào thu nhập của ông Lê Văn H2, T4 đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 36.000.000 đồng với mục đích thanh toán, tiêu dùng cho ông Lê Văn H2. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày 21/03/2023 đến ngày 21/01/2025, ông Lê Văn H2 đã thực hiện các giao dịch bằng thẻ với tổng số tiền là 116.094.801 đồng. ông Lê Văn H2 thanh toán cho T4 là 82.876.828 đồng. bao gồm số tiền gốc: 81.565.481 đồng; lãi: 1.311.347 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo khoản 1 Điều 6 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế T4, số hiệu 026/2022/SP-TPB.RB).

Từ ngày 05/02/2024, ông Lê Văn H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên T4 đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng không nhận được sự hợp tác trả nợ từ ông H2. Việc vi phạm nghĩa vụ của ông H2 như trên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của T4. Do ông H2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 06/05/2024 T4 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. (Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế T4, số hiệu 026/2022/SP-TPB.RB).

Tính đến ngày 20/3/2025, ông Lê Văn H2 còn nợ T4 số tiền 98.868.616 đồng. Trong đó Nợ gốc thẻ: 34.529.320 đồng; Nợ lãi trong hạn: 13.014.359 đồng; Nợ lãi quá hạn: 51.324.937 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 21/02/2025 cho đến khi ông Lê Văn H2 thanh toán hết các nghĩa vụ cho T4;

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP T1 với ông Lê Văn H2 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 05/02/2024, ông H2 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo thông báo giao dịch của Ngân hàng, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H2 vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 06/5/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn; tính đến ngày 20/3/2025, ông H2 còn nợ Ngân hàng số tiền là 98.868.616 đồng (Chín mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm mười sáu đồng). Trong đó N2 gốc: 34.529.320 đồng; lãi trong hạn: 13.014.359 đồng; lãi quá hạn: 51.324.937 đồng. HĐXX xét thấy: ông Lê Văn H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 06 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng như đã ký kết. Việc khởi kiện của T4 yêu cầu Tòa án buộc ông H2 phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng; Điều 280, 463,466 của Bộ luật dân sự năm 2015, điểm b, khoản 1 Điều 14 Nghị định 101/2021/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt nên cần được chấp nhận.

[4] Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 21/02/2025 trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T4 kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 06/3/2023 cho đến khi ông H2 thanh toán xong khoản nợ.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T1 được chấp nhận nên bị đơn là ông H2 phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền ông H2 phải chịu là 4.943.431 đồng (bốn triệu, chín trăm bốn mươi ba ngàn, bốn trăm ba mươi mốt đồng)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, 463,466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

- Nghị định 101/2021/NĐ-CP ngày 22/11/2021 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt;

- Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng thương mại cổ phần T1 đối với ông Lê Văn H2.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Lê Văn H2 phải trả cho Ngân hàng TMCP T1 số tiền tính đến ngày 20/02/2025 là 98.868.616 đồng (Chín mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm mười sáu đồng). Trong đó N2 gốc: 34.529.320 đồng; lãi trong hạn: 13.014.359 đồng; lãi quá hạn: 51.324.937 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 21/02/2025 trên số nợ gốc theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T4 kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 06/3/2023 cho đến khi ông Lê Văn H2 thanh toán xong khoản nợ.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: 4.943.431 đồng (bốn triệu, chín trăm bốn mươi ba ngàn, bốn trăm ba mươi mốt đồng) ông Lê Văn H2 phải chịu.
  3. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần T1 số tiền tạm ứng án phí 1.621.908 đồng (Một triệu, sáu trăm hai mươi mốt ngàn, chín trăm lẻ tám đồng) theo biên lai thu số 0003243 ngày 24/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  5. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/DSST-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

  • Số bản án: 13/2025/DSST-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Tiên Phong kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Lê Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger