Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04-4-2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Ông Nguyễn Văn Dũng
    2. Ông Nguyễn Văn Cơ
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 452/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXX-ST ngày 28/02/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 16/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số nhà D Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Dương Ngọc N (tên gọi khác: Dương Ngọc N1, Dương Ngọc L), sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà D Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Dương Ngọc N (tên gọi khác: Dương Ngọc N1, Dương Ngọc L) xây dựng gia đình với nhau vào năm 1995, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng chung sống tại tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng khoảng bảy năm nay. Quá trình sống chung thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông N tính tình gia trưởng, thường xuyên say xỉn đánh đập, xúc phạm vợ con, gây nợ nần kéo dài, ngoài ra còn bồ bịch, không chung thủy. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông N.

Về quan hệ con chung: Bà xác định giữa bà và ông N có 02 con chung tên là Dương Ngọc Anh V, sinh năm 1995 và Dương Ngọc Hoài N2, sinh năm 2001. Các con chung đã đủ tuổi thành niên nên không đề cập yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai và phiên hòa giải ngày 27/11/2024, bị đơn ông Dương Ngọc N (tên gọi khác: Dương Ngọc N1, Dương Ngọc L) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà T về năm kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, nơi chung sống của hai vợ chồng. Ông xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không mức phải ly hôn. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông không đồng ý.

Về con chung: Ông xác định giữa bà và ông N có 02 con chung tên là Dương Ngọc Anh V, sinh năm 1995 và Dương Ngọc Hoài N2, sinh năm 2001. Các con chung đã đủ tuổi thành niên nên không đề cập yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Trích lục kết hôn, giấy khai sinh của con chung, Căn cước công dân của nguyên đơn, CMND của bị đơn, Phiếu thông tin công dân, biên bản xác minh tại địa phương của Tòa án, bản ảnh chụp tin nhắn zalo, camera.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Trịnh Thị T được ly hôn ông Dương Ngọc Nhĩ. Về con chung: đã thành niên nên không đề cập đến. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

  • [1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, bị đơn là ông Dương Ngọc N có địa chỉ nơi cư trú tại quận L. Do vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

  • [3] Bà Trịnh Thị T và ông Dương Ngọc N xây dựng gia đình với nhau vào 1995, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) (theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 07 năm 1995), hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân có đủ các điều kiện do Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
  • [4] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà Trịnh Thị T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng nên tha thiết xin ly hôn. Ông Dương Ngọc N vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình tố tụng có trình ý kiến cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không mức phải ly hôn nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.
  • [5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị T thì thấy: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình sống chung thì giữa vợ chồng bà Trịnh Thị T và ông Dương Ngọc N xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp. Theo kết quả xác minh tại địa phương của Toà án thể hiện giữa vợ chồng bà Trịnh Thị T và ông Dương Ngọc N có xảy ra mâu thuẫn đã lâu. Hiện vợ chồng bà T và ông N đã sống ly thân, mỗi người một nơi. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Trịnh Thị T và ông Dương Ngọc N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin được ly hôn của bà Trịnh Thị T là chính đáng, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Trịnh Thị T được ly hôn ông Dương Ngọc Nhĩ.
  • [6] Về con chung: Bà Trịnh Thị T và ông Dương Ngọc N xác định có 02 con chung tên là Dương Ngọc Anh V, sinh năm 1995 và Dương Ngọc Hoài N2, sinh năm 2001. Các con chung đã thành niên và không thuộc trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • [7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trịnh Thị T và ông Dương Ngọc N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
  • [8] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng bà Trịnh Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn" của bà Trịnh Thị T đối với ông Dương Ngọc N (tên gọi khác: Dương Ngọc N1, Dương Ngọc L).

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trịnh Thị T ly hôn ông Dương Ngọc N (tên gọi khác: Dương Ngọc N1, Dương Ngọc L).
  2. Về con chung: Không giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
  4. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Trịnh Thị T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0008981 ngày 28/10/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Trịnh Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  5. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS quận L;
  • - UBND xã H
  • (Số Đ: 07 ngày 06/6/1995);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Anh T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Th ly hôn ông Nh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger