|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 02 – 04 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trí Thuyết
Bà Đinh Thị Tuyết Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST- HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST- HS, ngày 19 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc T (tên gọi khác: M), sinh ngày 22/9/2003 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn C, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân T1, sinh năm 1973, con bà Mai Thị Thanh N, sinh năm 1974; Chưa có vợ, con;
Tiền án: Không.
Tiền sự: 02; Ngày 31/12/2020, bị Công an huyện C, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000114/QĐ - XPHC, đã nộp phạt ngày 14/02/2025; Ngày 06/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, tại Quyết định số 08/QĐ – TA. Chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc ngày 06/5/2024.
Nhân thân: Ngày 09/09/2021, bị Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai kết án 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS – ST của TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/12/2021.
Bị tạm giữ ngày 30/11/2024 đến ngày 09/12/2024 được thay thế bằng biện pháp tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giữ, tạm giam Công an Chư Sê – Trại tạm giam Công an tỉnh G.Có mặt.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:Trần Ngọc T (tên gọi khác: M) là người sử dụng trái phép chất ma túy. Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, vào ngày 29/11/2024, T đi xe đò lên khu vực nhà nghỉ T5 thuộc xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai gặp và mua một lượng ma túy loại Methamphetamine trị giá 500.000 đồng của người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi mua được ma túy, T mang về nơi ở của mình tại số A, đường H, tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C (T ở chung nhà với chị gái là Trần Thị Ngọc H), tại đây T sử dụng một phần ma tuý mua được, phần còn lại T cất giấu tại chỗ ngủ để lần sau sử dụng cho bản thân.
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 30/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C tiến hành kiểm tra điểm nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy tại số A, đường H, thuộc tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai, kết quả kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại chỗ ngủ của T: 01 túi nilon dạng túi zip bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi ma túy; 01 bộ dụng cụ gồm 01 lọ thủy tinh có gắn nắp bằng nhựa, bên trên nắp nhựa có gắn 01 ống nhựa màu đen và 01 ống thủy tinh uốn cong, 01 đầu phình to có dạng hình cầu.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã xét nghiệm ma tuý đối với Trần Ngọc T, kết quả: Trần Ngọc T dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 119/LXK ngày 30/11/2024 và tiến hành khám xét nơi ở của Trần Ngọc T tại số A đường H, tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Quá trình khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C không thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì.
* Tại bản Kết luận giám định số 1073/KL-KTHS, ngày 07/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận:
- - Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon được niêm phong trong bì công văn ghi “(1)” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2760 gam.
- - Chất rắn màu trắng đục bám dính trong đoạn ống thủy tinh (gắn tại nắp lọ thủy tinh) được niêm phong trong bì công văn, ghi “(2)” là ma túy, loại Methamphetamine, không cân được khối lượng do lượng mẫu ít.
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C thu giữ tại chỗ ngủ của Trần Ngọc T: 01 túi nilon dạng túi zip bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi ma túy (được niêm phong theo quy định và đánh số “1”); 01 bộ dụng cụ gồm 01 lọ thủy tinh có gắn nắp bằng nhựa, bên trên nắp nhựa có gắn 01 ống nhựa màu đen và 01 ống thủy tinh uốn cong, 01 đầu phình to có dạng hình cầu (được niêm phong theo quy định và đánh số “2”). Toàn bộ mẫu vật sau giám định được hoàn lại gồm: 0,2480 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 gói nilong thuộc bì công văn ghi “1”, cùng vỏ bao gói, tất cả được niêm phong trong 01 bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G, mặt trước ghi “(1)” và dòng chữ “Số 1073/PC09 ngày 07 tháng 12 năm 2024”, tại các mép dán mặt sau có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết của Đỗ Văn C, Bùi Sĩ T3, Phan Thanh T4; 01 lọ thủy tinh có nắp màu trắng có hai lỗ, một lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu đen, lỗ còn lại gắn 01 đoạn ống thủy tinh uốn cong, một đầu phình to thuộc bì công văn ghi “(2)”, cùng vỏ bao gói, tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G, mặt trước ghi “(2)” và dòng chữ “Số 1073/PC09 ngày 07 tháng 12 năm 2024”, tại các mép dán mặt sau có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết của Đỗ Văn C, Bùi Sĩ T3, phan Thanh T4. Đây là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội. Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện C để quản lý, bảo quản và thi hành theo Bản án.
Tại Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
*Tại phiên toà:
Bị cáo Trần Ngọc T khai nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, tại lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo thể hiện sự ăn năn, hối cải về tội phạm đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt để sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 24 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
- - Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý mà T tàng trữ, số dụng cụ mà Trần Ngọc T dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý là chất cấm, vật cấm nên đề nghị tịch thu, tiêu huỷ.
- - Về án phí: Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc T khai nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan CSĐT Công an huyện C, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 10 giờ, ngày 30/11/2024, tại số nhà A, đường H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai, Trần Ngọc T bị bắt quả tang khi có hành vi cất giấu 0,2760gam ma tuý, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng, đây là số ma tuý mà trước đó vào ngày 29/11/2024 bị cáo đã mua từ một người không rõ nhân thân lai lịch, nhưng chưa sử dụng hết. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội danh, khung hình phạt, theo các điều, khoản, điểm tương ứng của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ của người sử dụng cũng như đối với toàn xã hội, ma tuý làm suy thoái nhân cách, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòi đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, đặc biệt là nguyên nhân gây lây lan đại dịch HIV/AIDS. Thế nhưng, bất chấp pháp luật, bất chấp những hậu quả gây ra, bị cáo vẫn thực hiện tội phạm vì để thoả mãn cho nhu cầu của bản thân, do đó, hành vi của bị cáo cần phải bị nghiêm trị, để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Ngọc T đã từng bị kết án về tội cố ý gây thương tích, đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau cai nghiện bị cáo lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, điều này cho thấy khả năng cải tạo, giảo dục của bị cáo thấp.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ Luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ quy định của pháp luật hình sự, nhân thân, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm ma tuý tại địa phương, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo thực hiện, đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
[6]. Về những nội dung khác của vụ án:
Đối với chị Trần Thị Ngọc H là người cho Trần Ngọc T ở tại nhà thuộc quyền quản lý của mình, nhưng chị H không biết việc T mua ma tuý, sử dụng trái phép chất ma tuý và cất giấu ma tuý tại nơi ở của mình nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C không đề cập xử lý đối với chị H là đúng pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Trần Ngọc T, Cơ quan Công an huyện C đã xử lý vi phạm hành chính đối với T là phù hợp.
[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý mà T tàng trữ, số dụng cụ mà Trần Ngọc T dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý là chất cấm, vật cấm nên tịch thu, tiêu huỷ.
[8].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 30/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy : - 0,2480 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 gói nilong thuộc bì công văn ghi “1”, cùng vỏ bao gói, tất cả được niêm phong trong 01 bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G, mặt trước ghi “(1)” và dòng chữ “Số 1073/PC09 ngày 07 tháng 12 năm 2024”, tại các mép dán mặt sau có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết của Đỗ Văn C, Bùi Sĩ T3, Phan Thanh T4;
- - 01 lọ thủy tinh có nắp màu trắng có hai lỗ, một lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu đen, lỗ còn lại gắn 01 đoạn ống thủy tinh uốn cong, một đầu phình to thuộc bì công văn ghi “(2)”, cùng vỏ bao gói, tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G, mặt trước ghi “(2)” và dòng chữ “Số 1073/PC09 ngày 07 tháng 12 năm 2024”, tại các mép dán mặt sau có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết của Đỗ Văn C, Bùi Sĩ T3, phan Thanh T4.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Việt Anh |
6
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Thi tàng trữ ma túy trái phép
