Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ QUAO

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt, Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị L, sinh ngày 01/01/1959; nơi sinh: Thành phố H - tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...]; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị S (đã chết), chồng là Trần Văn N (đã ly hôn) và 04 con; lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 198. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 338 ngày 18/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Tú C, sinh ngày 20/11/1983; nơi sinh: Quận C - Tp .. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Vương T2, chồng là Tô Văn T3 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 339 ngày 18/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Vũ Kiều O, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

2/ Ông Trần Văn O1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

3/ Ông Vũ Cao S1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

- Người chứng kiến: Ông Danh T4, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 15 tháng 12 năm 2024 lực lượng Công an huyện G tiến hành bắt quả tang Nguyễn Thị L đang thực hiện hành vi bán số đề và tổng hợp phơi đề tại nhà thuộc khu phố P, thị trấn G, huyện G. Quá trình điều tra xác định, bị cáo Nguyễn Thị L bắt đầu tham gia làm thầu đề và tự ghi bán số lô, số đề được 02 ngày 14/12/2024 và ngày 15/12/2024 thì bị bắt. Đồng thời, bị cáo Nguyễn Thị Tú C và bà Vũ Kiều O là người trực tiếp ghi bán số lô, số đề sau đó chuyển toàn bộ các con số bán được cho L bằng cách đọc thông báo trực tiếp qua điện thoại, để được hưởng tiền hoa hồng. Cụ thể như sau: Đối với số đầu số đuôi, mua 1.000 đồng người mua phải trả 1.000 đồng, trúng thưởng 80.000 đồng/01 số đầu (giao lại cho L 88% số tiền); đối với lô số 02 con mua 1.000 đồng lô người mua phải trả 13.500 đồng, trúng thưởng 70.000 đồng/01 lô (giao lại cho Lệ 12.800 đồng); đối với lô số 03 con mua 1.000 đồng lô người mua phải trả 13.500 đồng, trúng thưởng 600.000 đồng/01 lô (giao lại cho L 12.800 đồng); số đá mua 1.000 đồng người mua phải trả 28.000 đồng, trúng thưởng 500.000 đồng/cặp số (giao lại cho L 26.000 đồng). Quá trình điều tra chứng minh được vào ngày 14/12/2024 bị cáo Lệ thầu số lỗ vốn và ngày 15/12/2024 chưa kịp tổng hợp lời lỗ thì bị Công an bắt quả tang.

Hành vi đánh bạc của các đối tượng thể hiện như sau:

Đối với Nguyễn Thị L ngày 15/12/2024 tổng hợp số đề tại các phơi ký hiệu 3, 4 và 5, cụ thể như sau:

* Đài K: Số đầu có 82 lượt con số với số tiền là: 3.710.000 x 88% = 3.264.800 đồng; số đuôi có 26 lượt con số với số tiền là: 660.000 x 88% = 580.800 đồng; số đá thẳng có 01 cặp số với số tiền 26.000 đồng; số lô 2 con có 29 lượt con số với số tiền là: 333.000 x 12.8 = 4.262.400đồng.

Tổng số tiền ghi số đài Kiên Giang là: 3.264.800 + 580.800 + 26.000 + 4.262.400 = 8.134.000đồng

* Đài Đ: Số đầu có 10 lượt con số với số tiền là: 450.000 x 88% = 396.000 đồng; lô 2 con có 09 lượt con số với số tiền là: 60.000 x 12.8 = 768.000 đồng; số đá có 01 lượt số với số tiền là: 26.000 đồng;

Tổng số tiền ghi số đài Đ là: 396.000 + 768.000 + 26.000 = 1.190.000đồng.

* Đài T: Số đầu có 04 lượt con số với số tiền là: 230.000 x 88% = 202.400 đồng; lô 2 con có 07 lượt con số với số tiền là: 35.000 x 12.8 = 448.000 đồng; số đá thẳng có 01 lượt với số tiền là: 26.000 đồng;

Tổng số tiền ghi số đài Tiền Giang là: 202.400 + 448.000 + 26.000 = 676.400 đồng.

Như vậy, tổng số tiền ghi số đài M gồm các đài Kiên Giang, Đ, Tiền Giang là: 8.134.000 + 1.190.000 + 676.400 = 10.000.400 đồng (Mười triệu không trăm không chục không ngàn bốn trăm đồng).

Vào ngày 14/12/2024 tham gia ghi bán số đề tại các phơi ký hiệu 1 và 2 cụ thể như sau:

* Đài L: Số đầu có 61 lượt con số với số tiền là: 2.045.000 x 88% = 1.799.600 đồng; số đuôi có 14 lượt con số với số tiền là: 190.000 x 88% = 167.200 đồng; số lô 2 con có 19 lượt con số với số tiền là: 117.000 x 12.8 = 1.497.600 đồng; lô 3 con có 01 lượt con số với số tiền là: 12.800 đồng; số đá thẳng có 02 lượt con số với số tiền là: 38.400 đồng.

Tổng số tiền ghi số đề đài Long An là: 1.799.600 + 167.200 + 1.497.600 + 12.800 + 38.400 = 3.515.600 đồng.

Đối chiếu kết quả xổ số đài Long An ngày 14/12/2024, kết quả trúng thưởng như sau: Số đầu trúng thưởng: 35.000 x 80 = 2.800.000 đồng; lô 2 con trúng thưởng: 41.000 x 70 = 2.870.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng đài Long An là: 2.800.000 + 2.870.000 = 5.670.000 đồng;

Như vậy tổng số tiền nhận và trúng thưởng đài Long A là: 3.515.600 + 5.670.000 = 9.185.600 đồng.

* Đài H: Số đầu có 28 lượt con số với số tiền là: 605.000 x 88% = 532.400 đồng; Số đuôi có 09 lượt con số với số tiền là: 170.000 đồng x 88% = 149.600 đồng; lô 2 con có 08 lượt con số với số tiền là: 473.600 đồng; số đá thẳng có 03 cặp số đá với số tiền là: 64.000 đồng.

Tổng số tiền ghi số đài Hậu Giang là: 532.400 + 149.600 + 473.600 + 64.000 = 1.219.600 đồng.

Đối chiếu kết quả xổ số đài Hậu Giang không trúng thưởng.

* Đài B: Số đầu có 16 lượt con số với số tiền là: 415.000 x 88% = 365.200 đồng; số đuôi có 03 lượt con số với số tiền là: 60.000 x 88% = 52.800 đồng; lô 2 con có 07 lượt con số với số tiền là: 32.000 x 12.8 = 409.600 đồng.

Tổng số tiền ghi số đề đài Bình Phước là: 365.200 + 52.800 + 409.600 = 827.600 đồng.

* Đối chiếu kết quả xổ số đài Bình Phước, kết quả trúng thưởng như sau: Lô 2 con trúng thưởng: 16.000 x 70 = 1.120.000 đồng;

Vậy số tiền ghi số đề và trúng thưởng đài Bình P là: 827.600 + 1.120.000 = 1.947.600 đồng.

* Đ Thành Phố Hồ Chí Minh: Số đầu có 16 lượt con số với số tiền là: 415.000 x 88% = 365.200 đồng; số đuôi có 03 lượt con số với số tiền là: 60.000 đồng x 88% = 52.800 đồng; lô 2 con có 07 lượt con số với số tiền là: 32.000 x 12.8 = 409.600 đồng;

Tổng số tiền nhận đài Thành Phố Hồ Chí Minh là: 365.200 + 52.800 + 409.600 = 827.600 đồng.

* Đối chiếu kết quả xổ số đài Thành Phố Hồ Chí Minh, kết quả trúng thưởng như sau: Số đuôi trúng thưởng: 40.000 x 80 = 3.200.000 đồng; lô 2 con trúng thưởng: 10.000 x 70 = 700.000 đồng.

Vậy tổng số tiền ghi số đề và trúng thưởng đài Thành Phố Hồ Chí Minh là: 827.600 + 3.200.000 + 700.000 = 4.727.600 đồng.

Tổng số tiền ghi số đề và trúng thưởng đài Miền Nam gồm các đài Long An, Hậu Giang, Bình Phước, Thành Phố Hồ Chí Minh là: 9.185.600 + 1.219.600 + 1.947.600 + 4.727.600 = 17.080.400 đồng.

* Đài Miền B Hà Nội: Số đầu có 04 lượt con số với số tiền là: 850.000 x 88% = 748.000 đồng; số lô 2 con có 02 lượt con số với số tiền là: 25.000 x 22.500 đồng = 562.500 đồng;

Đối chiếu kết quả xổ số miền B, đài H không trúng thưởng:

Vậy tổng số tiền nhận đài miền B, Hà Nội là: 748.000 + 562.500 = 1.310.500 đồng.

Như vậy tổng số tiền nhận số đề và trúng thưởng đài Miền N1 và Miền B là: 17.080.400 + 1.310.500 = 18.390.900 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị L đồng ý nộp số tiền 14.320.000 đồng tạm giữ tại nhà để khắc phục và nộp thêm số tiền là 3.799.300 đồng. Tổng số: 18.119.300 đồng.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Tú C, quá trình điều tra đã thừa nhận tham gia bán số đề vào ngày 15/12/2024 là 7.827.000 đồng và chứng minh thu lợi bất chính vào ngày 14/12/2024 là 120.000 đồng. Đến nay bị cáo C đã khắc phục được số tiền 7.547.000 đồng.

* Tại hiện trường Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ:

  • - 05 (năm) phơi đề có nội dung ghi các con số đề, có dấu lăn tay xác nhận của bà Nguyễn Thị L (đã đưa vào hồ sơ vụ án);
  • - Số tiền VNĐ 23.964.300 đồng (Trong đó thu giữ trên người và tại nhà bị cáo L là 14.320.000đ, bị cáo L giao nộp 3.799.300đ, bị cáo C giao nộp 3.000.000đ, ông Trần Văn O1 giao nộp 2.445.000đ, ông Vũ Cao S1 nộp 400.000đ), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 18/02/2025.
  • - 01 (một) cây viết mực xanh 0.5 nhãn hiệu TL-079;
  • - 01 (một) cây viết mực đỏ 0.5 nhãn hiệu TL-079;
  • - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu bạc, số IMEI: 354035905987796/01 (thu giữ của bị cáo L);
  • - 01 (một) máy tính tay màu xám, nhãn hiệu CASIO LC-403TV;
  • - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 màu trắng số IMEI 354565115782710/01 (do bị cáo C giao nộp).
  • - Tiền VNĐ 4.547.000đ theo biên lai thu tiền số 0005234 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.

Các vật chứng trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSND-GQ, ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tú C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tú C phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L hình phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tú C hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu bạc, số IMEI 354035905987796/01; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 màu trắng số IMEI 354565115782710/01; số tiền liên quan đến việc đánh bạc là 23.964.300 đồng theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 18/02/2025 và số tiền 4.547.000 đồng của bị cáo C nộp theo Biên lai số 0005234 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) máy tính tay màu xám, nhãn hiệu CASIO LC-403TV; 01 (một) cây viết mực xanh 0.5 và 01 (một) cây viết mực đỏ 0.5 cùng nhãn hiệu TL-079.

Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đều có đơn xin vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt những người này nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tú C tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 15/12/2024, lực lược Công an huyện G tiến hành bắt quả tang bị cáo Nguyễn Thị L đang thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức bán số đề tại nhà thuộc khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Qua đối chiếu phơi đề, lời khai của các đối tượng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã xác định được trong ngày 14/12/2024 bị cáo L tham gia đánh bạc với số tiền là 18.390.9000 đồng và ngày 15/12/2024 bị cáo L tham gia đánh bạc với số tiền là 10.000.400 đồng, còn bị cáo Nguyễn Thị Tú C tham gia đánh bạc trong ngày 15/12/2024 với số tiền là 7.827.000 đồng. Như vậy, hành vi của hai bị cáo L và C đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, được pháp luật Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tư lợi cá nhân, bất chấp pháp luật các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, hành vi đánh bạc của các bị cáo còn là một tệ nạn xã hội cần xóa bỏ vì nó để lại hậu quả xấu cho xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác; với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm đủ sức răn đe và nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Vai trò của các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tú C thể hiện: Cả hai bị cáo có sự thống nhất và cùng nhau bàn bạc để thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo L giữ vai trò chính làm thầu đề; còn bị cáo C là người trực tiếp ghi bán số lô, số đề sau đó chuyển toàn bộ các con số bán được cho L bằng cách đọc thông báo trực tiếp qua điện thoại, để được hưởng tiền hoa hồng. Do đó cần xét xử hai bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội và theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L tham gia bán số đề cho từ ngày 14 tháng 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2024 thì bị bắt quả tang là 02 ngày; trong ngày 14/12/2024 bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền 18.390.900đ và ngày 15/12/2025 bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền 10.000.400đ, như vậy các ngày 14 và ngày 15 tháng 12 năm 2024 bị cáo L thực hiện hành vi bán số đề cho con các bạc đã đủ yếu tố định lượng, cấu thành tội đánh bạc. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Số tiền VNĐ 23.964.300 đồng (Trong đó thu giữ trên người và tại nhà bị cáo L là 14.320.000đ, bị cáo L giao nộp 3.799.300đ, bị cáo C giao nộp 3.000.000đ, ông Trần Văn O1 giao nộp 2.445.000đ, ông Vũ Cao S1 nộp 400.000đ) theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 18/02/2025 và số tiền là 4.547.000đ theo biên lai thu tiền số 0005234 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, là tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;

- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu bạc, số IMEI 354035905987796/01; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 màu trắng số IMEI 354565115782710/01; là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

- 01 (một) máy tính tay màu xám, nhãn hiệu CASIO LC-403TV; 01 (một) cây viết mực xanh 0.5 và 01 (một) cây viết mực đỏ 0.5 cùng nhãn hiệu TL-079. Là đồ vật liên quan đến việc đánh bạc, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với những người tham gia mua số đề nhưng không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự gồm: ông Trần Văn O1 tham gia mua số đề ngày 15/12/2024 với số tiền là 995.000 đồng và ngày 14/12/2024 với số tiền là 1.450.000 đồng; ông Vũ Cao S1 tham gia mua số đề ngày 15/12/2024 với số tiền là 400.000 đồng. Đồng thời, kết quả tra cứu tiền án, tiền sự của ông O1 và ông S1 không có tiền án, tiền sự nên tách ra để xử lý hành chính. Đối với hành vi vi phạm của bà Vũ Kiều O, Cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra và lập hồ sơ tại vụ án khác số 63AĐ1224/81313D lập ngày 18/12/2024 và sẽ xử lý sau.

[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tú C phạm tội “Đánh bạc”.

+ Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L hình phạt tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

+ Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tú C hình phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 màu bạc, số IMEI 354035905987796/01 và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A31 màu trắng số IMEI 354565115782710/01 (đã qua sử dụng);
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền VNĐ 23.964.300 đồng (Trong đó thu giữ trên người và tại nhà bị cáo L là 14.320.000đ, bị cáo L giao nộp 3.799.300đ, bị cáo C giao nộp 3.000.000đ, ông Trần Văn O1 giao nộp 2.445.000đ, ông Vũ Cao S1 nộp 400.000đ) theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 18/02/2025 và số tiền là 4.547.000đ theo biên lai thu tiền số 0005234 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao
  • - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) máy tính tay màu xám, nhãn hiệu CASIO LC-403TV; 01 (một) cây viết mực xanh 0.5 và 01 (một) cây viết mực đỏ 0.5 cùng nhãn hiệu TL-079.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tú C, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện KSND huyện Gò Quao;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Quao;
  • - Các bị cáo; Những người TGTT;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tôn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Tú C phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger