trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số 13/2025/HS-ST

Ngày 26 – 3 – 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Yên Dũng.

Bà Tô Thị Thanh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, mở phiên toà xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Vũ Xuân T, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1986 tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vân: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân D và bà Nguyễn Thị T1; có vợ: Chu Huyền L và có 02 người con; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 26/5/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/6/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Vũ Văn H, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1991, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L1 và bà Đậu Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/7/2021, bị TAND thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành 22 tháng. Bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Chu Hùng K, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1986, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi đăng ký thường trú: K, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi đăng ký tạm trú: Tổ dân phố T, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn K1 và bà Lương Thị T4; có vợ Nguyễn Thị Lan A (đã ly hôn) và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/5/2011, bị Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị bắt tạm giữ từ ngày 26 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Nguyễn Nhật Đ, sinh ngày 28 tháng 3 năm 2001, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Nhật D1 và bà Hồ Thị H1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cẩm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. Vũ Văn T2, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1998, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T3 và bà Trần Thị H2; có vợ: Lương Thị Mai T4; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cẩm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  6. Lê Đức D2, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1993, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức H3 và bà Văn Thị H4; có vợ Đinh Thị Ngọc Q và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  7. Lê Tiến H5, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2002, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến T5 (đã chết) và bà Lê Thị V; vợ Nguyễn Thị N1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  8. Trần Đức M, sinh ngày 09 tháng 01 năm 1998, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vân: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức R và bà Hồ Thị M1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  9. Vũ Văn B, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2001, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L2 và bà Vũ Thị L3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 26 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quán X, địa chỉ tại khối E phường Q thị xã H, tỉnh Nghệ An là của anh Lê Văn N2, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố T, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An làm chủ quán và giao cho Chu Hùng K là quản lý và thu tiền quán bi-a trên.

Vào khoảng 15 giờ ngày 23/12/2024, Vũ Xuân T, Lê Đức D2 và Nguyễn Nhật Đ đến quán X-a chơi, tại đây cả ba cùng rũ nhau đến bàn số 5 đánh bạc bằng hình thức đánh bi-a lỗ, các thức: Sử dụng 09 quân bi-a trên bàn để dùng quân cái đánh đầu các bi xuống lỗ, nếu người nào đánh xuống lỗ được nhiều bi thì thắng và được cộng thêm điểm, người nào đánh không xuống lỗ thì bị trừ điểm để tính thắng thua và ghi số điểm vào một quyển số ô ly. Các đối tượng quy ước: cứ 01 điểm tương ứng với số tiền là 100.000 đồng. Sau khi kết thúc việc đánh bạc sẽ thanh toán tiền thắng thua với nhau. Khi đánh bạc, Lê Đức D2 có số tiền 2.090.000 đồng để dùng vào việc đánh bạc; Nguyễn Nhật Đ có số tiền 10.606.105 đồng trong đó có số tiền mặt là 120.000 đồng và số tiền trong tài khoản ngân hàng là 10.486.105 đồng. Quá trình đánh bạc Đ sẽ sử dụng số tiền 6.620.000 đồng để đánh bạc gồm 120.000 đồng tiền mặt và 6.500.000 đồng tiền trong tài khoản ngân hàng, số tiền còn lại trong tài khoản là 3.986.105 đồng, Đ không dùng vào việc đánh bạc; khi đánh bạc Vũ Xuân T có số tiền 1.040.000 đồng dùng vào việc đánh bạc. Quá trình đánh thì Chu Hùng K biết đã đồng ý cho T, Đ, D2 thực hiện hành vi đánh bạc nơi do mình quản lý. Quá trình đánh bạc đến ván thứ 19 thì Lê Đức D2 dương 72 điểm, tương đương với số tiền thắng là 7.200.000 đồng; Nguyễn Nhật Đ âm 28 điểm, tương đương với thua 2.800.000 đồng, Vũ Xuân T âm 44 điểm tương đương với thua số tiền là 4.400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà Lê Đức D2, Vũ Xuân T, Nguyễn Nhật Đ dùng để đánh bạc tại bàn số 5 quán X là 9.750.000 đồng.

Cùng khoảng thời gian nêu trên, tại quán X, Vũ Văn H, Trần Đức M rủ nhau đến bàn số 2 đánh bạc bằng hình thức đánh bi-a lỗ, cách thức: sử dụng 09 quân bi-a trên bàn để dùng quân cái đánh các bi từ 1-9 xuống lỗ. Khi đến bị số 3, số E và số 9 thì người đánh được xuống lỗ thì thắng ván đó, tương ứng với số tiền 30.000 đồng, 60.000 đồng, 90.000 đồng, còn Lê Tiến H5 đứng xem. Khi Vũ Văn H và M đánh được khoảng hai ván thì Vũ Văn T2 đến xem, Vũ Văn H đã rũ Thao đánh bạc bằng hình thức trên với Vũ Văn H và M thì T2 đồng ý. Vũ Văn H và M chấp Thao 01 bi (tức là T2 chỉ ăn đến bị số 8 là thắng hai người còn lại), tương ứng với số tiền người thắng từng người là 90.000 đồng. Lúc này, Lê Tiến H5 đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Vũ Văn B đến quán bi-a và đứng xem bàn số 2 và số 5. Lúc này, Lê Tiến H5 quay lại quán X và đến bàn số 2 đứng xem. Do muốn đánh bạc với mọi người nơi bàn số 2 nhưng không có tiền nên Lê Tiến H5 hỏi vay Vũ Văn B số tiền 300.000 đồng đánh bạc và hẹn tối hoặc ngày mai sẽ trả nên B đồng ý đứng ra vay tiền người khác để giúp cho H5 có tiền để đánh bạc. Sau đó Ba đến gặp Chu Hùng K hỏi vay số tiền 300.000 đồng cho Lê Tiến H5. Khương biết B đứng ra vay tiền cho H5 để đánh bạc nên K đồng ý đưa cho Lê Tiến H5 vay số tiền 300.000 đồng. Sau khi mượn được tiền, Lê Tiến H5 đến bàn số 02 và tham gia đánh bạc với Vũ Văn H, M, T2 với hình thức và số tiền như trên. Khi Lê Tiến H5 đánh được khoảng 3-4 ván thì thua số tiền 220.000 đồng, số tiền còn lại 80.000 đồng không đủ trả 01 ván nên Lê Tiến H5 đi về nhà. Còn Vũ Văn H, Vũ Văn T2 và Trần Đức M tiếp tục đánh bạc đến 18 giờ thì bị bắt quả tang. Khi đánh bạc, Vũ Văn H có số tiền 2.280.000 đồng trong tài khoản ngân hàng và dùng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, quá trình đánh bạc Vũ Văn H thắng số tiền 330.000 đồng; Trần Đức M sử dụng số tiền 210.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạn, M thắng 610.000 đồng; Vũ Văn T2 có số tiền 8.303.000 đồng, T2 sử dụng số tiền 3.300.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại 5.003.000 đồng không sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc T2 thua số tiền 720.000 đồng; Lê Tiến H5 sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc H5 thua số tiền 220.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Vũ Văn H, Trần Đức M, Vũ Văn T2, Lê Tiến H5 sử dụng để đánh bạc là 6.090.000 đồng.

Vào hồi 18 giờ 23/12/2024, Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang tại bàn số 5 gồm Vũ Xuân T, Lê Đức D2 và Nguyễn Nhật Đ, tại bàn số 02 gồm Vũ Văn H, Vũ Văn T2 và Trần Đức M đang đánh B1-a thắng thua bằng tiền. Thu giữ tại bàn B1-a số 05 gồm 10 viên bi (thứ tự số 1 đến số 09 và 01 viên bị cái), 03 gậy để chọc bi-a, 01 quyển sổ ô ly bên trong có ghi nội dung liên quan đến đánh bạc; thu giữ trong người Nguyễn Nhật Đ số tiền 120.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax màu trắng, thu giữ trong người Lê Đức D2 số tiền 2.090.000 đồng và 01 điện thoại di động iphone 11 màu xanh; thu giữ trên bàn uống nước 01 điện thoại di động Iphone 15 màu xám là của Vũ Xuân T. Thu giữ tại bàn số 02 gồm: 10 viên bi (thứ tự số 1 đến số 9 và 01 viên bị cái); 03 gậy để chọc bi-a, thu giữ trong người Vũ Văn T2 số tiền 7.583.000 đồng và 01 điện thoại di động samsung galaxy AO53 màu đen; thu giữ trong người Vũ Văn H số tiền 330.000 đồng và 01 điện thoại di động Vivo Y02s màu đen; thu giữ trong người Nguyễn Đức M2 số tiền 820.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng.

Kết quả kiểm tra số tiền có trong tài khoản smart B2 như sau: tài khoản ngân hàng M3, số tài khoản 22828032001 mang tên NGUYEN NHAT DỤC tại chiếc điện thoại Iphone 15 Pro Max màu Trắng Xám, tổng số tiền dư là 10.486.105 đồng; tài khoản ngân hàng M3, số tài khoản 0373137345 mang tên VU VAN HAI tại điện thoại Vivo Y02s màu Đen, tổng số tiền 2.280.954 đồng.

Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Tiến H5 về hành vi Đánh bạc. Ngày 26/12/2024, Vũ Văn B, Chu Hùng K đến Cơ quan điều tra xin đầu thú về hành vi cho Lê Tiến H5 vay tiền để đánh bạc cùng với Vũ Văn H, T2, M2.

Cáo trạng số 14/CT-VKS-HM ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Xuân T, Vũ Văn H, Chu Hùng K, Nguyễn Nhật Đ, Vũ Văn T2, Lê Đức D2, Lê Tiến H5, Trần Đức M, Vũ Văn B phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1, 3, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Xuân T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025.

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Chu Hùng K từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Nhật Đ từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Văn T2 từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025.

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Đức D2 từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025.

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Tiến H5 từ 06 tháng đến 09 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025.

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Đức M từ 06 tháng đến 09 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025.

- Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Vũ Văn B từ 06 tháng đến 9 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Nguyễn Nhật Đ và Chu Hùng K. Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho các bị cáo Vũ Văn H, Vũ Văn T2, Lê Đức D2, Lê Tiến H5, Trần Đức M và Vũ Văn B.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 15.840.000 đồng (trong đó Lê Đức D2 2.090.000 đồng; Nguyễn Nhật Đ số tiền 6.620.000 đồng; Vũ Xuân T 1.040.000 đồng; Vũ Văn H 2.610.000 đồng; Trần Đức M 820.000 đồng; Vũ Văn T2 số tiền 2.580.000 đồng; Lê Tiến H5 80.000 đồng).

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu Trắng Xám, thu giữ của Nguyễn Nhật Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y02s, màu Đen, thu giữ của Vũ Văn H.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa, Các bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì.

Các Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tổ tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét thấy lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của các đối tượng đánh bạc và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 15 giờ đến 18 giờ ngày 23/12/2024, tại quán X, địa chỉ tại khối E, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Nhật Đ, Lê Đức D2, Vũ Xuân T, Vũ Văn T2, Vũ Văn H, Trần Đức M, Lê Tiến H5 đã thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức đánh B1-a (lỗ). Trong đó, tại bàn B1-a số 05, tổng số tiền mà T, Đ, D2 dùng vào việc đánh bạc là 9.750.000 đồng và tại bàn Bi-a số 02, tổng số tiền mà Vũ Văn T2, Vũ Văn H, Trần Đức M, Lê Tiến H5 dùng vào việc đánh bạc là 6.090.000 thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Chu Hùng K là quản lý của quán, không tham gia đánh bạc nhưng đã đồng ý để cho các bị cáo nêu trên thực hiện hành vi đánh bạc tại 02 bàn bi-a và còn giúp sức cho bị cáo Lê Tiến H5 vay tiền để đánh bạc nhưng không thu lợi bất chính. Đối với Vũ Văn B biết rõ Lê Tiến H5 mượn tiền để đánh bạc nhưng vẫn đồng ý đứng ra vay tiền của Chu Hùng K để cho Lê Tiến H5 đánh bạc. Vì vậy, Chu Hùng K và Vũ Văn Ba P chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự trị an và nếp sống văn minh xã hội, làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, do đó khi quyết định hình phạt, cần phải xem xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất tham gia và mức độ tham gia của từng người đồng phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm.

Bị cáo Vũ Xuân T phạm tội không có tình tiết tăng nặng; tuy bị cáo 02 nhận thân về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng đã xảy ra từ lâu; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bố bị cáo là ông Vũ Xuân D3 là bệnh binh hạng 3/3, được trợ cấp hàng tháng; bản thân bị cáo trong quá trình sinh sống tại địa phương tích cực tham gia và ủng hộ phong trào phòng chống C (ủng hộ 80 suất ăn) có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Vũ Văn H phạm tội không có tình tiết tăng nặng; bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Nhật Đ phạm tội không có tình tiết tăng nặng; bị cáo là người sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất trong trong các bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Chu Hùng K phạm tội không có tình tiết tăng nặng; năm 2011 bị cáo đã từng bị xử lý hành chính về hành vi “Đánh bạc”; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Vũ Văn T2, Lê Đức D2, Lê Tiến H5, Trần Đức M, Vũ Văn B thực hiện hành vi phạm tội không có tình tiết tăng nặng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Vũ Văn B, sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo Vũ Xuân T phạm tội ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Nhật Đ và Chu Hùng K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi đăng ký thường trú ổn định, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo Vũ Văn H, Vũ Văn T2, Lê Đức D2, Lê Tiến H5, Trần Đức M, Vũ Văn B phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ; giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét các bị cáo lao động tự do, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần thiết phải phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Xuân T6. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Nguyễn Nhật Đ, Chu Hùng K.

[5]. Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước các công cụ, phương tiện mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc, cụ thể:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu Trắng Xám, thu giữ của Nguyễn Nhật Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y02s, màu Đen, thu giữ của Vũ Văn H.

- Số tiền 15.840.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc.

[6]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[7]. Đối với Lê Văn N2 là chủ quán X, tuy nhiên, N2 không tham gia đánh bạc, không biết việc các bị cáo khác đánh bạc bằng hình thức chơi bi-a tại quán, không biết việc Chu Hùng K sử dụng địa điểm quán để các bị cáo Đánh bạc nên không phạm tội.

Đối với Vũ Xuân B3, Lê Văn Đ1, Vũ Văn P1 có hành vi Đánh bạc bằng hình thức đánh bi-a với tổng tang số đánh bạc là 320.000 đồng, các đối tượng không có tiền án, tiền sự về tội “ Đánh bạc” hoặc “Gá bạc, tổ chức đánh bạc” nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc. Vì vậy, ngày 23/01/2025 Công an thị xã H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với các đối tượng trên theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Xét các đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật, nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Xuân T, Vũ Văn H, Chu Hùng K, Nguyễn Nhật Đ, Vũ Văn T2, Lê Đức D2, Lê Tiến H5, Trần Đức M, Vũ Văn B phạm tội “Đánh bạc”.

    - Căn cứ khoản 1, 3, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Xuân T 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/3/2025). Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.

    - Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Nhật Đ 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/3/2025).

    - Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Chu Hùng K 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/3/2025).

    Giao bị cáo Vũ Xuân T cho Ủy ban nhân dân phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Nhật Đ cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Chu Hùng K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi đăng ký thường trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thihành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    - Căn cứ khoản 1, 3, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Văn H 15 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 là 09 ngày = 27 ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 14 tháng 03 ngày Cải tạo không giam giữ.

    - Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Văn T2 15 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 là 09 ngày = 27 ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 14 tháng 03 ngày Cải tạo không giam giữ.

    - Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Đức D2 15 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 là 09 ngày = 27 ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 14 tháng 03 ngày Cải tạo không giam giữ.

    - Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Tiến H5 06 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 là 09 ngày = 27 ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 5 tháng 03 ngày Cải tạo không giam giữ.

    - Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Đức M 06 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 là 09 ngày = 27 ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 5 tháng 03 ngày Cải tạo không giam giữ.

    - Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Vũ Văn B 06 tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 12 năm 2024 đến ngày 01 tháng 01 năm 2025 là 06 ngày = 18 ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 5 tháng 12 ngày Cải tạo không giam giữ.

    Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Công an cấp xã nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Vũ Văn H, Vũ Văn T2, Lê Tiến H5, Trần Đức M, Vũ Văn B cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Q trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho các bị cáo.

    Giao bị cáo Lê Đức D2 cho Ủy ban nhân dân phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
    • - Số tiền 15.840.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc. (Số tiền trên hiện đang có tại số tài khoản 39490906861300000 tại Kho bạc Nhà nước thị xã H, tỉnh Nghệ An theo giấy nộp tiền ngày 24/01/2025)
    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu Trắng Xám, thu giữ của Nguyễn Nhật Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y02s, màu Đen, thu giữ của Vũ Văn H. (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An và Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vũ Xuân T, Vũ Văn H, Chu Hùng K, Nguyễn Nhật Đ, Vũ Văn T2, Lê Đức D2, Lê Tiến H5, Trần Đức M, Vũ Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Các Bị cáo;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An.
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Zuân T và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger