|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/DS-PT Ngày: 26/3/2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Dịu và ông Nguyễn Văn Được
Thư ký phiên tòa: Ông Mai Ngọc Khương - Thư ký viên;
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham dự phiên toà:
Bà Huỳnh Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên;
Ngày 26/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa phúc thẩm xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 59/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2025/QĐPT-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1958 (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Hoài B, sinh năm 1985 ( có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Duy B1, Luật sư Văn phòng L2, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).
Bị đơn: Ông Ngô Công H, sinh năm 1973 (Có mặt) và bà Lê Thị Cẩm V, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
(Bà Lê Thị Cẩm V ủy quyền cho ông Ngô Công H tham gia tố tụng).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1961 (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Hoài B, sinh năm 1985 ( có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người làm chứng:
- Ông Phạm Hữu T1, sinh năm 1955 (Có mặt).
Địa chỉ: T, Xã Q, Huyện N, tỉnh Ninh Thuận. - Ông Trần Quốc D, sinh năm 1963 (Có mặt).
Địa chỉ: L, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. - Ông Đặng C, sinh năm 1959 (Có mặt).
Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Quốc T kháng cáo
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Quốc T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P và người đại diện theo ủy quyền đều trình bày:
Diện tích đất thuộc một phần thửa đất số 272, tờ bản đồ 43, thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo sơ đồ vị trí thửa đất của Văn phòng Đ chi nhánh N ngày 01/12/2023 là 351,4m² có nguồn gốc do vợ chồng ông T và bà P khai hoang từ năm 1983. Sau khi khai hoang thì ông T và bà P sử dụng khoảng 2 đến 3 năm vào việc trồng cây khoai tía, khoai lang rồi bỏ hoang cho đến năm 2017 thì quay lại sử dụng bằng cách để cây giống và đổ rác. Vì ông T và bà P có rất nhiều đất nên dành nhiều thời gian cho việc đầu tư, đăng ký quyền sử dụng các diện tích đất khác và bỏ hoang diện tích đất này. Khi khai hoang thì không xin phép cơ quan có thẩm quyền, quá trình sử dụng không liên tục, không kê khai, đăng ký quyền sử dụng. Từ lúc khai hoang sử dụng rồi bỏ hoang cho đến khi quay lại tiếp tục sử dụng thì hiện trạng đất vẫn còn như nhau (đất trủng, chưa được bồi đắp). Đến khoảng tháng 2 năm 2023, ông H và bà V tiến hành bồi đắp nên xảy ra tranh chấp và ông T, bà P mới biết việc ông H, bà V đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H và bà V đã xây dựng tường rào bằng gạch có chiều dài 13,3m, chiều cao 2,6m. Vì vậy ông T, bà P yêu cầu buộc ông H và bà V phải trả lại diện tích đất 351,4m² thuộc thửa đất số 272, tờ bản đồ 43, thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo sơ đồ vị trí thửa đất của Văn phòng Đ chi nhánh N ngày 01/12/2023 cho ông T, bà P.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Ngô Công H, bà Lê Thị Cẩm V trình bày:
Vào năm 1996, ông nhận chuyển nhượng diện tích đất và nhà của ông Trần Quốc D, ông và ông D có viết Giấy chuyển nhượng. Tuy nhiên diện tích đất nhận chuyển nhượng bao nhiêu thì không ghi cụ thể. Ngày 18/11/1999 ông đăng ký kê khai nên được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận lần đầu vào ngày 06/03/2000 với tổng diện tích 1.250m². Ngày 20/4/2009, ông và bà V có đơn xin cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.230,4m². Tiếp tục đến năm 2019 thì ông và bà V có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Sở Tài nguyên - Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 701091, thửa đất số 727, tờ bản đồ 43 thuộc thôn T, xã Q với diện tích 1.230.4m² bao gồm cả diện tích đất 351,4m² hiện nay tranh chấp. Trong thời gian vợ chồng ông sử dụng thì diện tích đất đang tranh chấp là một vùng đất trủng, đọng nước nên vợ chồng ông đã liên tục hằng năm bồi đắp bằng nhiều hình thức như tự kéo đất từ suối hoặc thuê xe đổ đất cho cao ráo, sạch sẽ. Việc bồi đắp đất được xung quanh hàng xóm chứng kiến và gia đình ông T cũng biết việc này nhưng không có ý kiến gì. Đến tháng 02/2023, vợ chồng ông tiếp tục bồi đắp thì ông T và bà P tranh chấp. Vì vậy, yêu cầu của ông T và bà P buộc vợ chồng ông phải tháo dỡ tường rào để trả lại diện tích đất đang tranh chấp thì ông không đồng ý.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9, 14 Điều 26, các Điều 35, 39, 147 157, 165, 271, 273 và 483 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc T và bà Nguyễn Thị P về việc buộc ông Ngô Công H và bà Lê Thị Cẩm V phải tháo dỡ phần tường rào bằng gạch có chiều dài 13,3m, chiều cao 2,6m để trả lại diện tích đất 351,4m² thuộc thửa đất số 272, tờ bản đồ 43, thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo sơ đồ vị trí thửa đất của Văn phòng Đ chi nhánh N ngày 01/12/2023
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền, nghĩa vụ của các bên thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27/5/2024 ông Trần Quốc T làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện và thay đổi nội dung kháng cáo, cụ thể yêu cầu hủy Bản án vì vi phạm thủ tục tố tụng. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận:
Cấp sơ thẩm xác định chưa đầy đủ quan hệ tranh chấp, không xác định yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết không đúng thẩm quyền; Bỏ sót người tham gia tố tụng là Ủy ban huyện N, Sở Tài nguyên môi trường tỉnh N, không đưa đầy đủ thành viên hộ và không thu thập chứng cứ làm rõ tính hợp pháp trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu của ông H. Đề nghị hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại (có bản luận cứ kèm theo).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện chỉ cung cấp người làm chứng ông D, T1, C, tuy nhiên nguyên đơn thừa nhận việc sử dụng đất không tiến hành kê khai, không có ranh rào để xác định ranh giới, chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của người sử dụng đất. Bị đơn sử dụng sử dụng đất nhận chuyển nhượng từ ông D có nguồn gốc rõ ràng, sử dụng ổn định, đã đăng ký kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015 không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc T nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn chỉ tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bị đơn tháo dỡ, di dời tài sản trên đất. Quá trình tố tụng nguyên đơn không có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đầy đủ quan hệ tranh chấp và vụ án thuộc thẩm quyền, phạm vi giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn là đúng quy định theo khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Các bên đương sự tranh chấp quyền sử dụng diện tích 351,4m² thuộc một phần thửa đất số 272, tờ bản đồ 43, xã Q và buộc tháo dỡ phần tường rào bằng gạch có chiều dài 13,3m, chiều cao 2,6m trên diện tích đất tranh chấp.
Theo biên bản thẩm định ngày 08/8/2023 và trích đo Bản đồ địa chính ngày 01/12/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh N thể hiện: Các bên đương sự tranh chấp quyền sử dụng diện tích 351,4m² theo các điểm (A, B, C, D) thuộc một phần thửa đất số 272, tờ bản đồ 43. Trên đất có tài sản gồm: đoạn tường rào xây dựng dài 13,3m, cao 2,6m (hướng Đông) do ông H xây dựng năm 2023.
Tại giai đoạn phúc thẩm nguyên đơn có yêu cầu thẩm định, đo đạc xác định lại diện tích tranh chấp. Qua đo đạc theo chỉ dẫn của nguyên đơn xác định diện tích 462,3m² trong đó có 48,8m² đường giao thông thuộc các điểm (1, 2, 3, 4). Tại phiên tòa, ông T xác định chỉ tranh chấp diện tích 413,5m² theo các điểm (1, 4, 5, 12), hiện trạng đất có ba mặt tiếp giáp đường đi và một mặt tiếp giáp suối (tứ cận không tiếp giáp hộ dân). Trên đất có tường rào xây bằng gạch có chiều dài 13,3m, chiều cao 2,6m nối tiếp đoạn tường thành còn lại phía Đông của thửa đất 272, tờ bản đồ số 43, xã Q, đất nung nền diện tích 20m² (do ông H xây dựng) và 3 tảng đá tự nhiên.
[2.1] Quá trình thu thập chứng cứ xác định:
Căn cứ vào bản đồ địa chính, sổ mục kê, của UBND xã Q được thành lập vào năm 2007, thửa đất số 272, tờ bản đồ 43 xã Q, được quy chủ cho ông Ngô Công H và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 253610 ngày 06/03/2000 với diện tích 1.250m² có 400m² đất T và 850m² đất vườn tạp) thuộc thửa 01, 02 tờ bản đồ Đội 10, Triệu P1 và năm 2019 Sở T4 cấp đổi giấy chứng nhận số CT 701091 diện tích 1.230m² thửa 272, tờ bản đồ 43 cho ông Ngô Công H, bà Lê Thị Cẩm V,
Ông Trần Quốc T cho rằng quyền sử dụng đất do ông khai hoang nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc khai hoang. Ông T đưa ra căn cứ chứng minh là lời chứng của ông Phạm Hữu T1, Trần Quốc D xác định: “ diện tích 351,4m² là đất của ông T”. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất được Nhà nước cấp phát cho hộ ông T1 theo đơn xin lô gia cư năm 1984 có tứ cận: “Tây nam giáp đường rẽ ông Lê Phan, Đông nam giáp đường ngang hương lộ, Tây bắc giáp suối, Đông bắc giáp suối nhỏ”; Đồng thời, đất ông D chuyển nhượng cho ông H theo giấy chuyển nhượng viết tay lập ngày 02/6/1996, có tứ cận: “Đông giáp nhà ông T2, T3 giáp giáp nhà bà L, Nam giáp nhà ông L1, B giáp nhà ông C”; Trên các giấy tờ này đều không thể hiện tứ cận có tiếp giáp với đất ông T. Tại phiên tòa, ông T1 và ông D đều xác định tứ cận theo giấy tờ nay tương ứng 3 mặt tiếp giáp đường và 1 mặt tiếp giáp suối; Bên cạnh đó, ông T1 còn xác định phần đất đang tranh chấp trước đây ông T đã thỏa thuận cho ông và ông đã sử dụng toàn bộ diện tích trước khi tặng cho ông D. Do đó, ông T1, ông D làm chứng xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông T là không có căn cứ.
Đồng thời, người làm chứng ông Đặng C xác định ông T trồng khoai lang trên đất. Tuy nhiên, lời khai ông T1, ông D đều cho rằng: “đất trước đây là vùng trũng sâu ngập nước, không trồng trọt được, ông H đã nâng đổ đất mới được như hiện tại ”. Hiện trạng trên đất các khối đá vẫn còn nguyên, không có dấu hiệu tác động khai thác hay trồng trọt, trên đất ông H có đổ đất nung nền 20m³. Do đó, lời khai người làm chứng mâu thuẫn nhau và không đủ yếu tố khách quan được sử dụng để đánh giá chứng cứ.
Mặc khác, quá trình tố tụng ông T luôn thay đổi mốc giới, diện tích tranh chấp, (tại đơn khởi kiện và biên bản hòa giải cơ sở xác định tranh chấp 200m² có bề ngang phía trước 8,6m, bề ngang phía sau giáp suối 8,2m; sau khi đo vẽ chỉ dẫn xác định tranh chấp 351,4m², giai đoạn phúc thẩm chỉ dẫn mốc giới tranh chấp đo đạc diện tích 462,3m²), việc chênh lệch diện tích tranh chấp qua hai lần đo đạc là do nguyên đơn chỉ dẫn ở các lần đo không trùng khớp mốc giới. Ông T cũng không chứng minh được quá trình sử dụng ổn định, liên tục, mặc dù nguyên đơn có nhà đất ở đối diện kề bên thửa đất 272 và trên diện tích đất tranh chấp ông T cũng không làm ranh rào, mốc giới. Ông T không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, chưa được quy chủ và không có một trong các loại giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 50 Luật đất đai năm 2003 (Điều 100 Luật đất đai 2013). Như vậy, theo quy định của pháp luật Đất đai thì không đủ căn cứ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông Trần Quốc T.
Nguyên đơn cho rằng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H không có chữ ký của chủ sử dụng đất liền kề là ông C. Tuy nhiên tại Công văn số 2164/UBND-TH ngày 23.5.2023 của UBND huyện N thể hiện: “Trường hợp thửa đất của hộ ông Ngô Công H đăng ký tại thời điểm năm 1999 có tứ cận không tiếp giáp với đất của bất kỳ ai mà chỉ tiếp giáp với đường và suối, nếu không có chữ ký của anh T2, bà L, ông L1 và anh C thì hộ ông H vẫn có quyền đăng ký quyền sử dụng đất. Do đó, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Ngô Công H được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật”.
Ông T kháng cáo và cung cấp giấy xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng có nội dung: “ông T có làm trên đất từ 1999 nhưng khi Nhà nước có thông báo kê khai nhưng chưa khai báo ...sử dụng từ năm 2000 đến nay”, tuy nhiên đơn xác nhận này mâu thuẫn với toàn bộ lời khai của ông T và bà P trong quá trình tố tụng: “khai hoang năm 1983 diện tích 200m², sử dụng 2 đến 3 năm rồi bỏ hoang, đến năm 2017 quay lại sử dụng bằng cách để cây giống và đổ rác” và nội dung theo giấy này cũng không được cơ quan quản lý đất đai địa phương xác nhận.
Ông H có quá trình sử dụng, nung đổ đất suốt thời gian dài, đã đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do không có căn cứ để xác định diện tích 351,4m² thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn, vì vậy ông T yêu cầu bị đơn tháo dỡ đoạn tường rào bằng gạch có chiều dài 13,3m, chiều cao 2,6m trên đất là không có cơ sở chấp nhận. Bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận tranh luận của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc T; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
[4] Về chi phí tố tụng: số tiền 13.374.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) chi phí thẩm định, định giá, trích đo bản đồ địa chính cả giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm. Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng và đã nộp đủ.
[5] Về án phí:
Yêu cầu khởi kiện, kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên ông Trần Quốc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên ông T thuộc diện người cao tuổi và có đơn nên được miễn tiền án phí dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 148, Điều 165; Điều 200; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 163, Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 100, Điều 101, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 31 Luật Đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận. Cụ thể như sau:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Quốc T đối với bị đơn ông Ngô Công H, bà Lê Thị Cẩm V về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất” đối với quyền sử dụng đất diện tích 351,4m² thuộc một phần thửa số 272, tờ bản đồ số 43, xã Q và tháo dỡ đoạn tường rào xây bằng gạch có chiều dài 13,3m, chiều cao 2,6m trên đất.
(Có trích lục bản đồ địa chính ngày 01/12/2023 của Văn phòng Đ, chi nhánh N kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: ông Trần Quốc T phải chịu toàn bộ số tiền 13.374.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) chi phí thẩm định, định giá, trích đo Bản đồ địa chính và đã nộp đủ.
- Về án phí:
Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Quốc T.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
- Số bản án: 13/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tran Quoc T - Ngo Cong H
