|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số:13/2025/HS-PT Ngày 25 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Bà Điêu Thị Bích Lượt |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ |
| Bà Lê Thị Thu Huyền | |
| Thư ký phiên toà: | Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/TLPT-HS ngày 27/12/2024. Do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Hữu H, Hà Đặng Chí K, Nguyễn Văn T, Yên Đức N, Nguyễn Đức M, Trần Anh P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HSST ngày 13/11/2024 của TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXPT - HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo kháng cáo.
1. Trần Anh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 30/7/2005; Hộ khẩu thường trú + chỗ ở: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Trần Minh C – sinh năm 1979; Mẹ đẻ: Trần Thị G – sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú.
2. Yên Đức N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/12/2007; Hộ khẩu thường trú + chỗ ở: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Yên Văn Đ; sinh năm 1980; Mẹ đẻ: Chu Thị H1; sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 02 tiền sự,
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12 ngày 28/12/2023 của Công an huyện T, xử phạt Cảnh cáo đối với Yên Đức N về hành vi Cố ý gây thương tích.
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 04/01/2024 của Công an huyện T, xử phạt Cảnh cáo đối với Yên Đức N về hành vi Cố ý gây thương tích.
Bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú.
3. Đỗ Hữu H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/02/2007; Hộ khẩu thường trú + chỗ ở: Khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đỗ Hồng H2; sinh năm 1967; Mẹ đẻ: Lê Thị Lệ H3; sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự,
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13 ngày 28/12/2023 của Công an huyện T xử phạt Đỗ Hữu H 3.250.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích. H chấp hành nộp phạt ngày 28/12/2023.
Bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú.
4. Nguyễn Đức M; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/4/2006; Hộ khẩu thường trú + chỗ ở: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn D; sinh năm 1981; Mẹ đẻ : Nguyễn Thị H4; sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự,
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 63 ngày 04/01/2024 của Công an huyện T, xử phạt Nguyễn Đức M 3.250.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích. M đã chấp hành nộp phạt ngày 21/3/2024.
Bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú.
5. Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/02/2006; Hộ khẩu thường trú + chỗ ở: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1; sinh năm 1971;Mẹ đẻ : Đặng Thị N1; sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự,
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13 ngày 25/02/2023 của Công an huyện T, xử phạt số tiền 3.250.000 đồng đối với Yên Đức N về hành vi Cố ý gây thương tích. T chưa chấp hành nộp phạt.
Bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú.
6. Hà Đặng Chí K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07/9/2005; Hộ khẩu thường trú + chỗ ở: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Hà Văn C1; sinh năm 1982; Mẹ đẻ : Đặng Thị Thanh N2; sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú.
Người bào chữa cho bị cáo Yên Đức N; Đỗ Hữu H: Ông Lã Thành C2 - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P;
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Yên Đức N: Bà Chu Thị H1 - Sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ ;
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Hữu H: Bà Lê Thị Lệ H3; sinh năm 1969 ; Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ
(Các bị cáo có mặt, ông C2, bà Chu Thị H1, bà Lê Thị Lệ H3 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 27/01/2024, Nguyễn Xuân T2, sinh năm 2004, cùng một số người bạn của T2 gồm: Nguyễn Hồng Hà V, sinh ngày 24/11/2008, Trần Văn T3, sinh năm 2003, Đồng Chức N3, sinh năm 2002, Đồng Mạnh C3, sinh năm 2008 cùng trú tại khu I, xã Đ, huyện T và Trần Thị Thúy N4, sinh năm 2006, trú tại khu E, xã B, huyện T đến quán B1 thuộc khu A, xã H, huyện T ăn đêm. Tại đây, nhóm của T2 xảy ra mâu thuẫn với Trần Anh P, sinh ngày 30/7/2005 và Trần Thế H5, sinh năm 2006, đều trú tại khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ, T3 dùng điếu cày có sẵn ở quán vụt trúng cánh tay phải của P, P và H5 chạy ra ngoài quán thì gặp Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/02/2006, trú tại khu A, xã H, huyện T, H, sinh ngày 07/9/2005, trú tại khu B, xã H và Hoàng Anh D1, sinh ngày 04/5/2007, trú tại khu A, xã H, huyện T. P nói cho T, K, D1 biết việc vừa bị nhóm của T2 đánh. Tiếp đó, P gọi điện cho Khổng Hồng H6, sinh ngày 26/8/2005, trú tại khu G, xã T, huyện T và Đỗ Hữu H, sinh ngày 20/02/2007, trú tại khu A, xã B, huyện T hẹn đến cầu H đón P. Khi P, T, K, D1 đến cầu H gặp H6 và H, P kể lại sự việc bị nhóm của T2 đánh và rủ tất cả cùng P đi tìm nhóm của T2 để đánh nhau thì tất cả đồng ý. Cả nhóm đi tìm đánh T2 nhưng không tìm được nên ra về. Sau khi về nhà P nhắn tin qua ứng dụng Mesenger cho T2 để thách thức và hẹn đánh nhau vào tối hôm sau.
Khoảng 19 giờ, ngày 28/01/2024, P gọi điện rủ Khổng Hồng H6, Đỗ Hữu H, Yên Đức N, sinh ngày 15/12/2007, trú tại khu D, thị trấn T và Nguyễn Duy P1, sinh ngày 02/03/2008, trú tại khu B, xã Đ, huyện T cùng P đến xã H để tìm đánh nhau với T2. N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám, biển kiểm soát 19AK – 014.57, H6 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 19L1 – 286.25, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu đen, biển kiểm soát 19L1 – 342.83 cùng đến cổng nhà H. Tại đây, P bảo cả nhóm tháo biển kiểm soát xe và đi đến khu vực Trạm bơm tiêu Đ4 thuộc khu C, xã B, huyện T lấy vỏ chai bia bằng thủy tinh để ném. Trên đường đi, N đón Nguyễn Duy P1. Khi đến khu vực trạm bơm, N lấy 01 két vỏ chai bia, H lấy 02 két vỏ chai bia Hà Nội (vỏ chai bia được xác định của gia đình ông Đặng Thế H7, sinh năm 1968, trú tại khu C, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ không sử dụng bỏ tại bãi đất trống), rồi cả nhóm đi đến đoạn đường đang xây dựng gần cầu T thuộc khu C, xã Đ, huyện T. Đến nơi, P bảo tất cả dừng lại để gọi thêm người và chuẩn bị thêm công cụ, phương tiện để đánh nhau. P gọi điện rủ thêm Khuất Trung H8, sinh ngày 04/03/2007, trú tại khu C, xã T, huyện T và bảo H gọi thêm Nguyễn Văn T, Khổng Hồng H6 gọi điện rủ thêm Phan Thành L, sinh ngày 19/5/2007, trú tại khu A, xã D, huyện T, bảo L mang theo gậy sắt và hẹn gặp nhau ở cầu Đ. L đồng ý và rủ Nguyễn Quốc K1, sinh ngày 27/06/2007, trú tại khu A, xã D, huyện T đi cùng. Trước đó, Nguyễn Thành D2, sinh ngày 05/4/2006, trú tại khu D, xã B, huyện T gặp P, H đi trên đường và biết đang đi tìm T2 để đánh nhau nên đã gọi điện thoại cho H xin đi cùng và bảo H qua đón. Nguyễn Thành D2 rủ thêm em trai sinh đôi là Nguyễn Đức M, sinh ngày 05/4/2006 tham gia cùng thì M đồng ý, sau đó H đến đón Nguyễn Thành D2 và M cùng đi. Khi được H gọi điện rủ, Nguyễn Văn T rủ Hà Đặng Chí K và Hoàng Anh D1 đi cùng, Anh D1 điều khiển xe Mô tô hiệu Honda Airblade, màu vàng đen, biển kiểm soát 19L1 – 131.84 chở T, K đi đến cầu H thì gặp H và N. T chỉ cho N biết vị trí nơi T giấu 01 chiếc gậy sắt dài khoảng 03m ở gần cầu H trước đó, N tìm được gậy sắt và đem ra chỗ cả nhóm đang tập trung ở cầu T thuộc xã Đ. Một lúc sau, Khuất Trung H8 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu xanh bạc, biển kiểm soát 19L1- 333.31 đến, Nguyễn Quốc K1 điều khiển xe mô tô hiệu ESPERO, màu xanh, không lắp biển kiểm soát chở Phan Thành L ngồi sau cầm theo 01 gậy sắt dài khoảng 02 m đến. Khi cả nhóm đã đến đủ, P bảo mọi người tháo biển kiểm soát xe và lấy thêm vỏ chai bia để đi tìm đánh nhau với nhóm của T2 thì tất cả đồng ý.
Khi đi, nhóm của P gồm 13 người, đi trên 06 xe mô tô và đem theo hung khí như sau: Trần Anh P điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu đen, không lắp biển kiểm soát chở Nguyễn Thành D2 ngồi sau, cầm 01 két đựng khoảng 17 -18 vỏ chai bia Hà Nội; Khuất Trung H8 điều khiển xe mô tô Honda Wave A màu xanh, bạc, không lắp biển kiểm soát chở Đỗ Hữu H ngồi sau, cầm 02 vỏ chai bia Hà Nội; Nguyễn Đức M điều khiển xe mô tô Honda Vision, màu xám không lắp biển kiểm soát, chở Nguyễn Duy P1 ngồi sau, cầm 01 két đựng 10 vỏ chai bia Hà Nội, P1 ôm lấy 10 vỏ chai bia và vứt bỏ két ở mương nước ven đường; Khổng Hồng H6 điều khiển xe mô tô Honda Wave A màu xanh đen bạc, không lắp biển kiểm soát chở Yên Đức N ngồi sau cầm 01 gậy sắt dài khoảng 03 m, hình ống tròn, đường kính 02 cm và 05 -06 vỏ chai bia Hà Nội; Nguyễn Quốc K1 điều khiển xe mô tô hiệu ESPERO, màu xanh, không lắp biển kiểm soát chở Phan Thành L ngồi sau, cầm 01 két đựng 09 vỏ chai bia Hà Nội và 01 gậy sắt dài khoảng 02m hình ống tròn, đường kính 2cm, sau đó L đưa gậy sắt cho K cầm; Hoàng Anh D1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade màu vàng đen, biển kiểm soát 19L1 -131.84 (trước đó T dùng khẩu trang che biển kiểm soát lại), chở theo Hà Đặng Chí K và Nguyễn Văn T, K cầm theo 01 gậy sắt do L đưa và 04 vỏ chai bia Hà Nội, T cầm 03 vỏ chai bia Hà Nội. Nhóm của P di chuyển từ đường liên xã thuộc khu C, xã Đ, huyện T ra đường C G, tiếp tục rẽ phải theo hướng đi thị trấn T để tìm đánh nhóm của T2, trên đường đi, do cầm gậy sắt mỏi tay nên K đã vứt bỏ ở ven đường 317 G thuộc xã Đ.
Về nhóm của Nguyễn Xuân T2: Sau khi thách thức và hẹn đánh nhau với Trần Anh P, khoảng hơn 19 giờ, ngày 28/01/2024, Nguyễn Xuân T2 rủ Trần Minh H9, sinh ngày 12/3/2006, Nguyễn Hồng Hà V, Trần Văn T3 đi đánh nhau với nhóm của P. T2 gọi điện rủ thêm Trần Mạnh D3, sinh ngày 19/6/2005, trú tại khu A, xã T, huyện T tham gia, D3 đồng ý. Do biết Đỗ Mạnh C4, sinh năm 1997, trú tại khu A, xã Đ, huyện T có hung khí thường giấu ở phòng trọ của C4, nên H9 bảo cả nhóm đến phòng trọ của C4 để mượn hung khí. Khi đến phòng trọ của C4 thì gặp Đinh Bá H10, sinh ngày 26/12/2008, trú tại khu A, xã T, huyện T và một số người khác ở đó. T2 nói với mọi người về việc chuẩn bị đi đánh nhau với nhóm của P. Lúc đó, Trần Minh H9 hỏi Đỗ Mạnh C4 cho mượn hung khí để đi đánh nhau thì C4 đồng ý và bảo H9 vào nhà lấy. H9 vào phòng trọ của C4 lấy 02 dao quắm, H10 ra bụi cỏ giáp phòng trọ của C4 lấy 01 dao phóng lợn. Sau khi mượn được hung khí, Nguyễn Xuân T2, Trần Minh H9, Trần Mạnh D3, Đinh Bá H10 và Nguyễn Hồng Hà V đi tìm nhóm của P để đánh nhau, còn Trần Văn T3 do lo sợ nên không tham gia mà ở lại quán của Đỗ Mạnh C4. Khi đi, T2 điều khiển xe mô tô Honda, màu xanh bạc, không lắp biển kiểm soát chở Đinh Bá H10 cầm theo 01 dao phóng lợn dài khoảng 03 m; Nguyễn Hồng Hà V điều khiển xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 29X7 – 383.16 chở Trần Minh H9 cầm theo 01 dao quắm; Trần Mạnh D3 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng, không lắp biển kiểm soát cầm theo 01 dao quắm. Nhóm của Nguyễn Xuân T2 di chuyển từ phòng trọ của Cầm theo đường tỉnh lộ 317E hướng UBND xã H rồi rẽ phải theo đường tỉnh lộ 317C hướng đi cầu H.
Lúc này, nhóm của Trần Anh P đang đi tìm nhóm của T2, P phát hiện thấy nhóm của T2 đi đến cầu H nên hô to “chúng nó đây rồi” đồng thời quay xe về khu vực ngã tư đường C. Khi gặp nhau tại ngã tư, nhóm của P ném vỏ chai bia về phía nhóm của T2, Yên Đức N ném 4 -5 vỏ chai bia, Nguyễn Duy P1 ném 04 vỏ chai bia, Nguyễn Thành D2 ném 03 vỏ chai bia, Phan Thành L ném 03 vỏ chai bia, Nguyễn Văn T ném 03 vỏ chai bia, Hà Đặng Chí K ném 02 vỏ chai bia, Hoàng Anh D1 ném 01 vỏ chai bia. Quá trình ném vỏ chai bia, nhóm của P liên tục hô hoán, chửi tục “đ. mẹ chúng mày”, “vào đây con chó”, “ mày định ăn tao à”. Khi bị ném, nhóm của T2 dừng đỗ xe tại đường tỉnh lộ 317C, gần lối rẽ vào cây xăng Đ5, lúc này Trần Mạnh D3, Trần Minh H9 cầm theo dao quắm, Nguyễn Xuân T2 cầm dao phóng lợn, Nguyễn Hồng H11 V nhặt vỏ chai bia ở đường rồi tất cả chạy bộ, đuổi theo ném lại nhóm của P, quá trình dồn đuổi nhóm của T2 cũng hô hoán, chửi tục “đ. mẹ chúng mày quay lại đây”. Thấy vậy, nhóm của P tiếp tục ném vỏ chai bia về nhóm của T2, đồng thời cả nhóm tăng ga bỏ chạy theo hướng xã Đ rồi rẽ phải vào đường C, hướng đi cụm công nghiệp xã H. Nhóm của T2 nhặt vỏ chai bia chưa bị vỡ trên mặt đường do nhóm của P ném và cầm theo hung khí ban đầu di chuyển theo đường 317C về phòng trọ của Đỗ Mạnh C4 cất dao quắm và dao phóng lợn rồi đi ra trước cửa phòng ngồi. Khi nhóm của P đi qua phòng trọ của C4 thì bị nhóm của T2 phát hiện, Đinh Bá H10, Trần Minh H9 và Trần Mạnh D3 mỗi người cầm 01 vỏ chai bia ném về phía nhóm của P, Nguyễn Đức M, Phan Thành L và Nguyễn Văn T mỗi người ném 01 vỏ chai bia về phía nhóm của T2. Sau đó, nhóm của P điều khiển xe với tốc độ cao khoảng 60-70 km/h, lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, rú ga, nẹt bô, bấm còi theo hướng UBND xã H rồi đi sang xã S, trên đường đi nhóm của P vứt bỏ két đựng vỏ chai bia và 01 gậy sắt ở ven đường sau đó giải tán đi về nhà.
Quá trình điều tra vụ án xác định, nơi các bị cáo sử dụng xe mô tô, cầm hung khí dồn đuổi nhau, ném vỏ chai bia về phía nhau là đường giao thông tỉnh lộ 317G, 317 C, 317 E thuộc các xã H, xã Đ, huyện T là các tuyến đường huyết mạch, có nhiều người, phương tiện di chuyển trên đường, nơi tập trung đông khu dân cư, cụm công nghiệp, nhiều cơ sở kinh doanh buôn bán của người dân, là nơi công cộng. Các đối tượng sử dụng hung khí nguy hiểm gồm vỏ chai bia, gậy sắt, dao phóng lợn, điều khiển xe mô tô lạng lách, đánh võng, dàn hàng ngang, bấm còi, nẹt bô, rú ga di chuyển trên các tuyến đường, gây mất an ninh trật tự và an toàn giao thông. Thời điểm xảy ra vụ việc từ khoảng 21 giờ 20 phút đến 21 giờ 35 phút, ngày 28/01/2024 (tức ngày 18/12/2023 âm lịch), là thời điểm giáp Tết nguyên đán, người dân đi lại trên đường nhiều, các cửa hàng, cơ sở kinh doanh vẫn còn hoạt động.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc với 07 người dân chứng kiến hành vi của các bị can, qua phản ánh của các công dân trên đều có tâm lý hoang mang, lo sợ và bức xúc với hành vi của các bị can. Cơ quan điều tra còn nhận được văn bản phản ánh và kiến nghị của UBND, các ban ngành, đoàn thể xã Đ, xã H phản ánh về sự việc trên, đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và đề nghị xử lý nghiêm minh hành vi của các đối tượng để ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Như vậy, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa Trần Anh P và Nguyễn Xuân T2, P đã rủ rê, lôi kéo các bị cáo Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Khổng Hồng H6, Nguyễn Duy P1, Khuất Trung H8, Nguyễn Văn T tham gia đánh nhau, cùng bàn bạc với nhau, chuẩn bị hung khí gồm vỏ chai bia, gậy sắt và rủ rê thêm nhiều đối tượng khác là Hà Đặng Chí K, Hoàng Anh D1, Nguyễn Đức M, Nguyễn Thành D2, Phan Thành L, Nguyễn Quốc K1 tham gia và cùng nhau có hành vi gây rối trật tự công cộng. Nguyễn Xuân T2 đã rủ rê, lôi kéo Trần Minh H9, Đinh Bá H10, Nguyễn Hồng Hà V, Trần Mạnh D3 tham gia đánh nhau với nhóm của P, cùng nhau tham gia bàn bạc, chuẩn bị hung khí là dao quắm và dao phóng lợn và cùng tham gia gây rối trật tự công cộng. Khi hai nhóm gặp nhau tại nơi công cộng đã dùng các hung khí nguy hiểm cùng nhau hò hét, chửi tục, dồn đuổi, ném hung khí về phía nhau, sau đó nẹt bô, rú ga, bấm còi, dàn hàng ngang di chuyển trên các tuyến đường, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự tại địa phương. Như vậy, hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị can thuộc trường hợp dùng hung khí quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, trong đó Trần Anh P và Nguyễn Xuân T2 là hai bị cáo rủ rê lôi kéo các bị can khác thực hiện hành vi phạm tội.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HSST ngày 13/11/2024, TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38, của Bộ luật Hình sự đối với Trần Anh P.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Hà Đặng Chí K
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với Yên Đức N, Đỗ Hữu H; Nguyễn Văn T, Nguyễn Đức M;
2. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trần Anh P, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Văn T, Hà Đặng Chí K, Nguyễn Đức M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Anh P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Hà Đặng Chí K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Yên Đức N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu H 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên các quyền và nghĩa vụ khác của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/11/2024 bị cáo Nguyễn Văn T, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo
Ngày 20/11/2024 bị cáo Trần Anh P và ngày 25/11/2024 bị cáo Hà Đặng Chí K kháng cáo xin được hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo
Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M, Trần Anh P, Hà Đặng Chí K; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HSST ngày 13/11/2024 của TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo, trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội:
Ngày 28/01/2024, tại các đoạn đường tỉnh lộ 317G, 317 C, 317 E thuộc các xã H, xã Đ, huyện T, là các tuyến đường huyết mạch, nơi tập trung đông khu dân cư, Trần Anh P, Nguyễn Xuân T2, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M, Nguyễn Quốc K1, Phan Thành L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành D2, Hà Đặng Chí K, Hoàng Anh D1, Khổng Hồng H6, Khuất Trung H8 và Trần Mạnh D3 đã có hành vi dùng hung khí dồn đuổi, ném nhau, sau đó nẹt bô, rú ga, bấm còi, dàn hàng ngang di chuyển trên các tuyến đường, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương được pháp luật bảo vệ. Bản án sơ thẩm đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo. Sau khi phạm tội các bị cáo Nguyễn Văn T, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M,Trần Anh P và bị cáo Hà Đặng Chí K kháng cáo xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Đối với bị cáo P đã thành niên có vai trò chính là người rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS, nên theo quy định của pháp luật bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo.
Bị cáo Hà Đặng Chí K đã thành niên có vai trò đồng phạm giúp sức trong vụ án. Bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, ngoài ra không có tình tiết giảm nhẹ nào khác. Theo quy định của pháp luật bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo, do vậy, kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M khi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, các bị cáo đều có tiền sự, thuộc trường hợp nhân thân không tốt, nên không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M không được chấp nhận.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo P, bị cáo K, bị cáo M, bị cáo T, bị cáo N, H không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp với pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo N, bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Anh P, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M, Nguyễn Văn T, Hà Đặng Chí K. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HSST ngày 13/11/2024 của TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
[2].Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38, của Bộ luật Hình sự đối với Trần Anh P.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Hà Đặng Chí K
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với Yên Đức N, Đỗ Hữu H; Nguyễn Văn T, Nguyễn Đức M;
2. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trần Anh P, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Văn T, Hà Đặng Chí K, Nguyễn Đức M phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Anh P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Hà Đặng Chí K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Yên Đức N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu H 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Trần Anh P, Yên Đức N, Đỗ Hữu H, Nguyễn Đức M, Nguyễn Văn T, Hà Đặng Chí K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 13/2025/HS-PT ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 13/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Anh Phong cùng ĐP
