|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY T P HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ – ST Ngày 21 tháng 3 năm 2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Quốc Huy.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa.
- Bà Trần Thị Huệ.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 117/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:04/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đỗ Quốc Q, sinh năm 1987; ( có đơn xin xét xử vắng mặt);
Bị đơn: Chị Hoàng Bảo N, sinh năm 1989; (Vắng mặt)
Cùng ĐKHKTT: Thôn T, xã S, thị xã S, TP .;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tổ tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Đỗ Quốc Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Bảo N đăng ký kết hôn ngày 17/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã S, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại gia đình anh Q tại thôn T xã S, thị xã S, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không hợp tính cách. Từ cuối năm 2022 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân. Nay anh Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.
+ Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Đỗ Bình M, sinh ngày 04/4/2016, cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 17/4/2018 và cháu Đỗ Phúc N1, sinh ngày 27/12/2019. Hiện cháu M và cháu K đang ở với anh Q, cháu N1 đang ở cùng chị N.Sau khi ly hôn, anh Q có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và cháu K, giao chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1. Anh Q không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung, anh Q sẽ cấp dưỡng nuôi con chung nếu chị N có yêu cầu.
- - Về tài sản chung, công sức chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về công nợ chung: Anh Q xác định không có.
- - Về án phí: Anh Q tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho chị Hoàng Bảo N theo nơi cư trú tại thôn T, xã S, thị xã S, tuy nhiên chị N không có văn bản trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Tòa án làm việc, hòa giải.Tòa án cũng tiến hành xác minh với gia đình anh Q và chính quyền địa phương tại thôn T, xã S, thị xã S, TP .. Tại Biên bản xác minh ngày 12/12/2024, đại diện chính quyền địa phương và gia đình anh Q cho biết: Anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N có đăng ký kết hôn ngày 17/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã S, thị xã S, TP .. Sau khi kêt hôn, anh chị chung sống với gia đình thời gian ngắn sau đó anh chị về sinh sống và làm việc tại thành phố Hà Nội, gia đình không biết địa chỉ cụ thể. Vợ chồng anh Q, chị N có mâu thuẫn nhưng anh chị không yêu cầu chính quyền địa phương và gia đình can thiệp, hòa giải nên về nguyên nhân, nội dung mâu thuẫn giữa anh chị địa phương và gia đình không được biết. Hiện anh Q và chị N không còn chung sống tại địa phương với nhau. Quá trình chung sống anh chị có 03 con chung là cháu Đỗ Bình M, sinh ngày 04/4/2016, cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 17/4/2018 và cháu Đỗ Phúc N1, sinh ngày 27/12/2019, hiện cháu M và cháu K đang ở cùng gia đình anh Q tại xã C, cháu N1 đang ở cùng chị N.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung của anh chị chính quyền địa phương và gia đình không được biết. Nay anh Q có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị N, đây là việc riêng của anh chị, đại diện chính quyền địa phương và gia đình không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại Biên bản xác minh ngày 12/12/2024 tại Công an thị xã S xác định chị Hoàng Bảo N vẫn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã S, thị xã S, TP ..Tòa án cũng tiến hành lấy ý kiến của cháu Đỗ Bình M theo quy định, tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/02/2025, cháu M trình bày nguyện vọng được ở cùng cả bố và mẹ. Mẹ cháu vẫn về đưa đón, chăm sóc cháu. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do chị N không đến Tòa án làm việc nên anh Q đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- + Về tố tụng:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Quốc Q được ly hôn với chị Hoàng Bảo N. Về con chung: cháu Đỗ Bình M, sinh ngày 04/4/2016, cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 17/4/2018 và cháu Đỗ Phúc N1, sinh ngày 27/12/2019. Giao cháu Đỗ Bình M và cháu Đỗ Anh K cho anh Đỗ Quốc Q, giao cháu Đỗ Phúc N1 cho chị Hoàng Bảo N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q và chị N đến khi có quyết định thay đổi khác. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Anh Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;
[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là chị Hoàng Bảo N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã S, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Ngày 21/02/2025, Tòa án đã mở phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên Tòa án căn cứ điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 21/3/2025 và tống đạt, thông báo hợp lệ đến các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa Anh Q và chị N là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống anh Q và chị N có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ lâu. Nay anh Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị N, chị N không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến bằng văn bản về yêu cầu ly hôn. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh chị có mâu thuẫn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh Q và chị N là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị N không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, không nêu quan điểm về việc giải quyết quan hệ hôn nhân, không đưa ra được phương án cụ thể khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đỗ Quốc Q, xử cho anh Q được ly hôn với chị Hoàng Bảo N.
[3] Về con chung: Anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N có 03 con chung cháu Đỗ Bình M, sinh ngày 04/4/2016, cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 17/4/2018 và cháu Đỗ Phúc N1, sinh ngày 27/12/2019. Anh Q có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và cháu K, giao chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1. Anh Q không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung, anh Q sẽ cấp dưỡng nuôi con chung nếu chị N có yêu cầu. Chị N không trình bày nguyện vọng về con chung tại Tòa án.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của anh Q là chính đáng, mặt khác hiện cháu M và cháu K đang sinh sống ổn định tại gia đình anh Q ở thôn T, xã S, thị xã S, TP ., chị N tuy không trình bày nguyện vọng về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nhưng hiện đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N1 nên việc giao cháu M và cháu K cho anh Q, giao cháu N1 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với thực tế đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung cũng như phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Do anh Đỗ Quốc Q không yêu cầu chị Hoàng Bảo N cấp dưỡng nuôi con chung, chị N không trình bày yêu cầu cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Q và chị N cho đến khi có yêu cầu mới. Sau khi ly hôn, anh Q và chị N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[4] Về tài sản chung, công sức chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị N không trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Nợ chung: Anh Q trình bày không có, chị N không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Anh Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đỗ Quốc Q, anh Đỗ Quốc Q được ly hôn chị Hoàng Bảo N.
- Về con chung: Có 02 con chung là 03 con chung cháu Đỗ Bình M, sinh ngày 04/4/2016, cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 17/4/2018 và cháu Đỗ Phúc N1, sinh ngày 27/12/2019. Giao cháu Đỗ Bình M và cháu Đỗ Anh K cho anh Đỗ Quốc Q nuôi, giao cháu Đỗ Phúc N1 cho chị Hoàng Bảo N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu M,K, N1, có quyết định thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N cho đến khi có yêu cầu, quyết định, thay đổi khác.
Sau khi ly hôn, anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung : Không có.
- Về án phí: Anh Đỗ Quốc Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh Q đã nộp Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001024 ngày 07/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP ..
- Về quyền kháng cáo: Anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Ngô Quốc Huy |
Nơi nhận:
- - TAND TP Hà Nội
- - Viện KSND TX.Sơn Tây, TP. Hà Nội;
- - Người tham gia tố tụng
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY- TP.HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - TP H NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Vào hồi 09 giờ 30 ngày 21 tháng 03 năm 2025;
Tại Trụ sở; Tòa án thị xã S, thành phố Hà Nội
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Quốc H
Các Hội thẩm: Ông Đinh Quang H1
Bà Trần Thị H2
Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân & gia đình sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Anh Đỗ Quốc Q, sinh năm 1987; ( có đơn xin xét xử vắng mặt);
Bị đơn: Chị Hoàng Bảo N, sinh năm 1989; (Vắng mặt)
Cùng ĐKHKTT: Thôn T, xã S, thị xã S, TP .
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đỗ Quốc Q, anh Đỗ Quốc Q được ly hôn chị Hoàng Bảo N.
- Về con chung: Có 02 con chung là 03 con chung cháu Đỗ Bình M, sinh ngày 04/4/2016, cháu Đỗ Anh K, sinh ngày 17/4/2018 và cháu Đỗ Phúc N1, sinh ngày 27/12/2019. Giao cháu Đỗ Bình M và cháu Đỗ Anh K cho anh Đỗ Quốc Q nuôi, giao cháu Đỗ Phúc N1 cho chị Hoàng Bảo N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu M,K, N1, có quyết định thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N cho đến khi có yêu cầu, quyết định, thay đổi khác.
Sau khi ly hôn, anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung : Không có.
- Về án phí: Anh Đỗ Quốc Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh Q đã nộp Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001024 ngày 07/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP ..
- Về quyền kháng cáo: Anh Đỗ Quốc Q và chị Hoàng Bảo N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định.
Kết quả biểu quyết: 3/3
-Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 45 phút cùng ngày
-Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 13/2025/HNGĐ – ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
