|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
|
Án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/3/2025 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung” |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Minh Côn
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Thành Công – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại từ: Bà Nguyễn Thị Ngân – chức vụ: Kiểm sát viên
Trong ngày 21/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đại Từ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 11/2025TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 17/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04/3/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Triệu Thị H, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Anh Đào Văn C, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng cư trú: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày như sau:
Nguyên đơn chị Triệu Thị H trình bày: Chị và anh Đào Văn C đăng ký hôn ngày 10/04/2015 tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống. Sau khi kết hôn sống hạnh phúc nhưng đến 2020 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cãi nhau, không chia sẻ được với nhau, không còn tình cảm nêm vợ chồng ly thân từ năm 2020 đến nay mỗi người một nơi. Đến nay chị xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị và anh Đào Văn C được ly hôn
Về con chung: Chị H và anh C có 01 con chung là cháu Đào Duy B, sinh ngày 04/11/2015 hiện nay cháu B đang ở với bố và bà nội. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng để cháu B cho anh C là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu B đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị sẽ đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Bị đơn là anh Đào Văn C trình bày: Anh và chị H đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND tại UBND xã P trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức lẽ cưới theo phong tục địa phương, sau khi cưới về sống cùng bố mẹ anh tại xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống vợ chồng đến năm 2020 thì vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do anh nghi ngờ chị H ngoại tình và chi H cũng đã thừa nhận, đến năm 2021 chị H tự ý bỏ đi, không liên lạc với gia đình, anh đã tìm và chị H về nhà một thời gian thì chị H lại bỏ nhà đi đến nay không liên lạc gì với gia đình nhà chồng. Nay chị H làm đơn xin ly hôn thì anh không đồng ý do anh còn tình nghĩa vợ chồng với chị huệ và muốn con có đủ bố và mẹ. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đào Duy B, sinh ngày 04/11/2015 hiện nay cháu B đang ở với bố và bà nội. Khi ly hôn anh C có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu B đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi cháu B, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để các đương sự về đoàn tụ với nhau và thỏa thuận với nhau các vấn đề giải quyết trong vụ án. Tuy nhiên, anh C xin vắng mặt và chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị H và anh C đều có đơn xin xử vắng mặt.
Tại đơn xin vắng mặt chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến tại bản tự khai. Anh Đào Văn C vẫn giữ nguyên quan điểm như đã khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện của chị Triệu Thị H xin ly hôn với anh Đào Văn C, sinh năm 1985, cư trú tại xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đây là vụ án về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa chị Triệu Thị H và anh C có đơn xin xử vắng mặt. Do đó áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị H và anh Đào Văn C đăng ký kết hôn ngày 14/04/2015 tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Việc kết hôn là tự nguyên, không bị lừa dối, cưỡng ép. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Triệu Thị H và anh Đào Văn C là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
[2.2]. Về tình cảm vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Sau khi kết hôn, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2020 cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không có sự tin tưởng và không chia sẻ được với nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung, chị H xác định không còn tình cảm với anh C, vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay.
Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C, HĐXX thấy rằng: Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, nhưng kể từ năm 2020 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không có sự tin tưởng và không chia sẻ được với nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2020 đến nay không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nên hôn nhân không đạt được hạnh phúc. Tuy nhiên, chị H xin ly hôn, anh C không đồng ý ly hôn với lý do anh còn tình cảm với chị H và muốn con có một gia đình có cả bố và mẹ. Mặc dù anh C không đồng ý ly hôn nhưng anh không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh, Toà án đã tổ chức phiên họp hoà giải để chị H và anh C đoàn tụ gia đình cùng nhau xây dựng hạnh phúc, tuy nhiên anh C vắng mặt, chị H kiên quyết ly hôn và xác định tình cảm vợ chồng không còn, đã sống ly thân nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn để giải phóng cho cả hai bên. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị Triệu Thị H và anh Đào Văn C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ và được chấp nhận.
[2.3]. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh C có một con chung là cháu Đào Duy B, sinh ngày 04/11/2015 hiện nay cháu B đang ở với bố và bà nội. Quá trình giải quyết chị H và anh C đều có nguyện vọng để anh Cương trực T nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu B đến khi cháu B đủ 18 tuổi, cháu B cũng có nguyện vọng ở với bố và bà nội. Căn cứ Điều 81,82,83 của Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX thấy rằng cần giao con chung là cháu Đào Duy B, sinh ngày 04/11/2015 cho anh Đào Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi là phù hợp với nguyện vọng của con và của chị H, anh C. Chị Triệu Thị H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết chị H và anh C không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi hoặc chấm dứt mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh C xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
2.4. Về án phí: Chị Triệu Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 10,11 và Điều 12 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 57, Điều 81, 82, và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Đào Văn C.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Triệu Thị H được ly hôn anh Đào Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Đào Duy B, sinh ngày 04/11/2015 cho anh Đào Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Triệu Thị H có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hoặc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Triệu Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai 0005791 ngày 04/2/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Duyên |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
