Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20 - 3 - 2025

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thuỷ và Bà Mai Tường Vi;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Trần Thị B, sinh năm: 1968; nơi thường trú: tổ H, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.

Bị đơn: anh Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1988; nơi thường trú: tổ F, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; hiện đang đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh, địa chỉ: xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/12/2024, lời tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị B đều trình bày: chị và anh Nguyễn Hữu T kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu 06 tháng. Sau khi kết hôn anh chị về sống tại tổ H, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống chung của anh chị có thời gian hạnh phúc cho đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T đi vào con đường sử dụng chất ma túy, nghiện hút làm ảnh hưởng đến kinh tế trong gia đình. Chị cũng đã khuyên bảo, động viên và cho anh T đi cai nghiện rất nhiều lần nhưng anh T vẫn không từ bỏ được, do sử dụng nhiều ma túy anh T bị ảo giác nên đã đánh đập và thường xuyên cầm dao đe dọa chị vào ban đêm khiến chị rất sợ hãi, hoảng loạn. Do anh T sử dụng ma túy nên đã bị bắt đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Quảng Ninh ở xã V, thành phố H. Đến nay chị thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, anh T không mang lại hạnh phúc cho chị và chị không còn tình cảm dành cho anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản chung, vay nợ chung: không có.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Hữu T không viết bản tự khai, tại phiên tòa anh T không trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị B.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị B với anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Trần Thị B yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Hữu T hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt cho các đương sự các văn bản tố tụng theo đúng quy định, đã tiến hành giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh nhưng anh T không chấp hành quy định, không ký nhận nhận văn bản và cũng không viết đơn xin xử án vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành trích xuất anh T đến tham gia tố tụng tại phiên tòa để đảm bảo các quyền lợi, nghĩa vụ của anh T theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị B và anh Nguyễn Hữu T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C vào năm 2020. Sau kết hôn, anh chị về sống tại tổ C, khu D, phường C, thành phố C. Quá trình tham gia tố tụng anh T không trình bày về điều kiện kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn; chị B có trình bày nguyên nhân là do khi kết hôn cả hai anh chị có tuổi tác chênh lệch nên tâm sinh lý và cách cư xử cũng không phù hợp với nhau. Từ năm 2023 chị còn phát hiện anh T sử dụng ma túy đá làm ảnh hưởng đến kinh tế trong gia đình, sau khi sử dụng ma túy anh T thường xuyên bị ảo giác, đã đánh đập và đe dọa khiến chị B sợ hãi, hoảng loạn, chị B cũng nhẹ nhàng khuyên bảo và cho anh T đi cai nghiện nhưng không đạt kết quả. Mâu thuẫn của anh chị kéo dài từ năm 2022 cho đến khi anh T bị bắt đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh. Lời khai của chị B về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ của đại diện khu phố nơi anh chị cư trú, quá trình vợ chồng anh chị ở đây thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, đánh chửi nhau, mỗi lần như thế chị B lại bỏ về nhà riêng ở... Cứ như thế 2 – 3 năm trở lại đây thỉnh thoảng vợ chồng lại trục trặc. Khoảng 1 năm trở lại đây qua lúc luân thì được biết anh T là đối tượng nghiện ngập, trong sự quản lý giám sát của Công an phường... thực tế hiện nay anh T cũng phải đi cai nghiện bắt buộc một thời gian dài nên không mang lại hạnh phúc cho chị B. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh T không bày tỏ quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chứng tỏ anh T cũng không thiện chí trong việc khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị B và anh T kéo dài, cuộc sống chung không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, cả hai không tìm được biện pháp khắc phục mâu thuẫn nên mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị B đối với anh T.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản và công nợ chung: quá trình giải quyết vụ án chị B có quan điểm anh chị không có tài sản và công nợ chung; anh T không có quan điểm về tài sản và công nợ chung trong thời kỳ hôn, trường hợp chị B và anh T có tài sản chung dẫn đến tranh chấp thì dành quyền khởi kiện vụ án khác cho anh T.

[3] Về án phí: chị B phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị B, cho ly hôn giữa chị Trần Thị B với anh Nguyễn Hữu T.
  2. Về án phí: chị Trần Thị B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp ngày 13/12/2024 theo biên lai số: 000786 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn và bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh ;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả;
  • - UBND phường Cẩm Trung, TP Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA – VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Quýnh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh về ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm HNGĐ về việc ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Nguyễn Hữu T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger