Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày 19-3-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hải Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Anh Tuấn

Bà Trần Thị Trúc Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số B, đường T, tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số B, đường T, tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 10 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại số B, đường T, tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành mà ngày càng trầm trọng. Hiện tại, chị và anh Nguyễn Văn K đã sống ly thân, không ai còn quan tâm và trách nhiệm gì với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng không thể đoàn tụ được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn K có hai con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2009 và Nguyễn Văn K1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2013. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thị N cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Văn K1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 30 tháng 12 năm 2024, bị đơn là anh Nguyễn Văn K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn K xác định lời khai của chị Nguyễn Thị L về điều kiện, thời gian kết hôn là đúng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không hợp nhau. Nay chị Nguyễn Thị L xin ly hôn, anh xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng chưa trầm trọng có thể khắc phục đoàn tụ được nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị L có 02 con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2009 và Nguyễn Văn K1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2013. Nếu ly hôn, anh đề nghị Toà án giao hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia phiên toà theo các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn K.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị N, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2009 cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Văn K1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2013 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn K có nơi ở tại số B, đường T, tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn K đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3]. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 10 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K là hôn nhân hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu khác do Tòa án thu thập được, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K hoà thuận hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp và không còn tin tưởng nhau về tình cảm dẫn đến vợ chồng thường hay xảy ra va chạm. Mặc dù mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không đạt kết quả. Hiện tại anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm và trách nhiệm gì với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa hai lần nhưng anh Nguyễn Văn K đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, chứng tỏ anh Nguyễn Văn K không muốn níu kéo quan hệ hôn nhân với chị Nguyễn Thị L. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L xin ly hôn với anh Nguyễn Văn K.

[5]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K có hai con chung tên là Nguyễn Thị N, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2009 và Nguyễn Văn K1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2013. Ly hôn, chị Nguyễn Thị L đề nghị Toà án giao con chung Nguyễn Thị N cho anh K nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Văn K1 cho chị nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn K có quan điểm đề nghị Tòa án giao hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Xét việc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án con chung Nguyễn Thị N có nguyện vọng được ở với anh K, con chung Nguyễn Văn K1 có nguyện vọng ở với chị L. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của các con nên chấp nhận yêu cầu của chị L về con chung là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L: Giao con chung Nguyễn Thị N cho anh Nguyễn Văn K nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Văn K1 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K đều có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K đều có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị N, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2009 cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Văn K1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2013 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004893 ngày 21 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - UBND phường Văn Đẩu
  • (ĐKKH số 90 đk ngày 27/10/2008);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger