Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Ngọc Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Mạc Vương Long.

Ông Phạm Văn Chữ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyển, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Từ Văn Q, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1977; Tên gọi khác: Không; Quê quán: xã Q, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: thôn T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Từ Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); Có vợ là Phạm Thị K và 03 con;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 02, 03 cùng ngày 12/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang đã xử phạt Từ Văn Q lần lượt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 26/11/2024, Q đã nộp phạt 2.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025, hiện bị tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại điểm cầu thành phần).

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1993 (vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, tổ công tác của Công an phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang tuần tra, kiểm soát tại tổ dân phố L, phường C, thị xã C phát hiện Từ Văn Q đang đứng ở khu vực dốc L có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Từ Văn Q có 01 (một) gói giấy bạc, hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành niêm phong 01 (một) gói giấy bạc, hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy vào phong bì thư dán kín, ký hiệu “QT” và đưa Q về trụ sở Ủy ban nhân dân phường C để lập biên bản bắt người người phạm tội quả tang. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Từ Văn Q nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của Q.

Tại bản Kết luận giám định số 125/KL-KTHS ngày 16/01/2025 của phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: “Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, loại Heroine (H), tổng khối lượng 0,110 gam.”

Quá trình điều tra Từ Văn Q thành khẩn khai nhận: Q là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 09/01/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Q đi bộ đến đoạn dốc thuộc tổ dân phố L, phường C, thị xã C để tìm mua ma tuý thì gặp một người đàn ông (Q không quen biết, không biết tên tuổi địa chỉ, đeo khẩu trang) đang đứng ở đó. Q hỏi mua 200.000 đồng ma tuý và được người đàn ông này đưa cho 01 gói giấy bạc, hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng (Q biết đây là ma tuý Heroine). Sau đó, Q cất gói ma tuý vừa mua được vào túi áo khoác bên trái đang mặc để đi về thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như trên.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Q nhưng Q không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác minh được để xử lý.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” do phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ để xử lý theo quy định.

Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Từ Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Từ Văn Q đã khai nhận khoảng 12 giờ ngày 09/01/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Từ Văn Q đã mua ma túy với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi tại khu vực

tổ dân phố L, phường C. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Q bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện và lập biên bản.

* Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Từ Văn Q, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Từ Văn Q từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/01/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo không tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát. Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người chứng kiến vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, tại khu vực dốc L thuộc địa phận tổ dân phố L, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; tổ công tác của Công an phường C, thị xã C phát hiện bắt quả tang Từ Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,110 gam ma tuý loại Heroine. Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm xói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm là công tác quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, thường xuyên giao du với những đối tượng có tiền án tiền sự, gây phức tạp về tình hình an ninh trật tự. Bản thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Điều đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì đáng giá, là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[10] Về những vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma túy, Q khai không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ, không thể nhận dạng được. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của đối tượng trên theo quy định pháp luật.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” do phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy

theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Về án phí: Bị cáo Từ Văn Quý phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Nội dung bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Từ Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/01/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT”, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,082 gam được hoàn lại sau giám định, phong bì được niêm phong bằng hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh B (Vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa Công an thị xã C và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ).
  3. Về án phí: Bị cáo Từ Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Chũ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thị xã Chũ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, tại khu vực dốc L thuộc địa phận tổ dân phố L, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; tổ công tác của Công an phường C, thị xã C phát hiện bắt quả tang Từ Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,110 gam ma tuý loại Heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger