Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 14-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Mai Phương – Bí Thư Đoàn quận Dương Kinh;

Bà Tạ Thị Hương – Công chức Tư pháp phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST- HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi phiên tòa số 132/HSST-TB ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H

sinh ngày 10 tháng 12 năm 1984, tại Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số A Đường H, tổ dân phố T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Vũ Thị P sinh năm 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29 tháng 7 năm 2024 đến ngày 06 tháng 8 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt tại phiên tòa.

-Bị hại:

Cháu Nguyễn Phi Yến N, sinh ngày 12/7/2009;

Nơi cư trú: P, A, Dương K, Hải Phòng;

Đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Phi Yến N là anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1987; cùng địa chỉ và là bố của cháu N.

Cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 19/9/2012;

Nơi đăng ký thường trú: Số 4/12 Lực Hành, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng

Nơi ở: Số 40, Đường 12, Trà Khê 1, Anh Dũng, Dương Kinh, Hải Phòng;

Đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Minh N1 là anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985; cùng địa chỉ và là bố của cháu N1.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Phạm Duy K1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt.

· Người làm chứng: Cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 21/6/2014;

Đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Minh H2 là anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985; là bố của cháu H2.

Cháu N, cháu N1, cháu H2, anh H1, anh L đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Trường THPT M - nơi bị hại là cháu Nguyễn Phi Yến N đang học tập: Ông Trịnh Khắc D – Phó Hiệu trưởng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Đại diện Trường THCS C - nơi bị hại cháu Nguyễn Minh N1 đang học tập. Bà Phạm Thị Diệp A – Phó Hiệu trưởng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, bị cáo Đỗ Văn H (H) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15K1 - 211.02 trên đường đi làm về đến dốc chân Cầu Rào 2 hướng đi Đ thuộc địa phận tổ dân phố P, phường A, quận D, H phát hiện có 03 cháu học sinh đi trên một xe đạp điện, là cháu Nguyễn Phi Yến N, sinh ngày 12/7/2009 là người điều khiển xe chở cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 21/6/2014 ngồi giữa và cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 19/9/2012 ngồi sau cùng. Tay phải của cháu N1 cầm 02 chiếc điện thoại (01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 có sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7 của cháu N1 không có sim) H2 nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của cháu N1 nên điều khiển xe mô tô đi chậm lại phía sau xe máy điện để tìm cách tiếp cận. Khi cháu N1 đang điều khiển xe đạp điện đi xuống dốc Cầu R, H2 điều khiển xe mô tô sang bên phải xe đạp điện và khi hai xe song song nhau, H2 đưa tay trái giật 02 chiếc điện thoại của cháu N1 và để vào trong túi vải balo màu xanh đựng đồ sửa chữa điện nước để ở võng xe rồi điều khiển xe mô tô bỏ chạy, mang về nhà tắt nguồn và cất giấu 02 điện thoại di động ở gầm giường tầng 2 nhà H2 ở. Đến ngày 29/7/2024, H2 biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện nên đến Công an quận D đầu thú và giao nộp 02 điện thoại di động, xe mô tô biển kiểm soát 15K1 - 211.02 và 01 túi vải màu xanh kích thước (40x30x30)cm.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn H tại số nhà A, ngõ I, Đường H, tổ dân phố T, phường A, quận D, Cơ quan điều tra không thu giữ được gì liên quan đến vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận D kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 có giá 5.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7 có giá 550.000 đồng, 01 sim điện thoại di động số 0327.750.xxx có giá 35.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 5.585.000 đồng.

Quá trình điều tra Đỗ Văn H khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.

Vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát biển kiểm soát 15K1 - 211.02 qua xác minh là tài sản của ông Vũ Bá T2, sinh năm 1959, ĐKTT: thôn H, xã C, huyện V, Hải Phòng. Ông T2 là bố vợ của H, khi H mượn xe ông T2 không biết H sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã trả lại xe mô tô cho ông T2. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, 01 sim điện thoại di động số 0327.750.xxx là tài sản của cháu Nguyễn Phi Yến N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7 là tài sản của cháu Nguyễn Minh N1 Cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản trên cho cháu N và cháu N1. Hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận D đang quản lý 01 chiếc túi vải màu xanh kích thước (40x30x30)cm thu giữ của Đỗ Văn H.

Về dân sự: Bị hại là cháu N và cháu N1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị phải bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố Đỗ Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng đều vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát trình bày lời luận tội: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Văn H mức án từ 39 đến 45 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 chiếc túi vải màu xanh kích thước (40x30x30)cm. Về dân sự, các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không còn yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo nên đề nghị không xem xét; về án phí: Đề nghị không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Hoàn toàn thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm. Bị cáo tỏ ra rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại tại phiên tòa: Hoàn toàn đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Hơn nữa những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, những lời khai này đã được Cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và sự vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về nội dung:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, trên đoạn đường dốc chân cầu R theo hướng từ nội thành Hải Phòng đi Đ thuộc địa phận tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng, Đỗ Văn H đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15K1 - 211.02 áp sát xe của cháu N đang điều khiển và dùng tay trái giật 02 chiếc điện thoại do cháu N1 đang cầm bằng tay phải và ngồi sau xe do cháu N điều khiển. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 5.3, mục 5, phần I của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân Tối cao-Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao -Bộ Tư pháp thì việc dùng mô tô làm phương tiện chiếm đoạt tài sản của người khác là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ngày 24/7/2024) bị hại là cháu Nguyễn Phi Yến N mới đạt độ tuổi 16 năm 00 tháng 12 ngày tuổi và cháu Nguyễn Minh N1 mới đạt độ tuổi 12 năm 10 tháng 05 ngày tuổi là trường hợp “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” nên hành vi của bị cáo Đỗ Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đến Cơ quan công an đầu thú. Trước khi xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thêm cho bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của nhà nước và quy định của địa phương, không có vi phạm gì. Bị cáo đã được tổ trưởng tổ dân phố xác nhận là công dân luôn chăm chỉ lao động, có phẩm chất đạo đức tốt.

[7] Về hình phạt đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của bị hại và đặc biệt trong vụ án này bị hại là người dưới 16 tuổi, được pháp luật đặc biệt coi trọng và bảo vệ. Do vậy căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự và trong mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời vừa thể hiện tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng trong nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát biển kiểm soát 15K1 - 211.02 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Vũ Bá T2, ông T2 không biết H mượn xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã trả lại xe cho ông T2 là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với 01 túi xách màu xanh của bị cáo sử dụng làm công cụ để cất giấu điện thoại, bị cáo cũng không có nhu cầu nhận lại do không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp bị hại được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ pháp luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt:

Căn cứ vào điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 29 tháng 7 năm 2024.

2. Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Văn H.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Do vậy cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu xanh kích thước (40 x 40 x 30) cm (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo Đỗ Văn H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - PV 06; PC10 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - VKSND Dương Kinh;
  • - Chi cục THADS Dương Kinh;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người bảo vệ cho bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Duyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp giật tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2025.03.14. BA13 HS Đỗ Văn H - Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger