|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/3/2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Lương Thị Thu An
- 2. Ông Phạm Xuân Đính
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ D, Khu phố C, phường M, Thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
Bị đơn: Anh Phan Văn L, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ G, K.2, P. H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Yến N và ông Phan Văn L chung sống với nhau vào năm 2024 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Trước khi chung sống cả hai còn độc thân, việc chung sống là tự nguyện.
Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã xô xát nhau, không có tiếng nói chung. Bà N nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên căng thẳng, bà N cảm thấy ngột ngạt, không khí gia đình nặng nề, không có hạnh phúc. Đến tháng 3/2024 bà N sinh con xong mang con về nhà mẹ ruột sinh sống luôn cho tới nay. Ông L thỉnh thoảng ghé thăm con rồi về, vợ chồng không còn quan hệ gì với nhau. Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với Phan Văn L.
Về nuôi con chung: Vợ chồng ông bà có 01 con chung tên Phan Ngọc Khả Á sinh ngày 24/3/2024, hiện đang sống cùng bà N, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Phan Văn L cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn khởi kiện bà N có yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 6.000.000 đồng nhưng bà N rút phần yêu cầu khởi kiện này.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Văn L đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng Phan Văn L vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của Phan Văn L được.
Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn xin vắng mặt
- - Bị đơn vắng mặt không có lý do
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến.
Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS năm 2015;
Về việc chấp hành theo quy đinh pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 63 BLTTDS 2015;
Về việc chấp hành theo quy định của pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đã chấp hành đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật
+ Quan điểm về giải quyết vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS
Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy:
Bà N và ông Phan Văn L chung sống với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống xét thấy ông bà thường xuyên mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu và không còn quý trọng, quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau nữa làm cho đời sống vợ chồng lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng.
Căn cứ Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bà Nguyễn Thị Yến N được ly hôn với ông Phan Văn L.
Về con chung: Bà N có nguyện vọng nuôi con chung, ông L không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà N. Vì vậy, đề nghị HĐXX giao con chung tên Phan Ngọc Khả Á sinh ngày 24/3/2024 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do bà N rút yêu cầu cấp dưỡng và việc rút yêu cầu của bà N là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên cần được xem xét chấp nhận
Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn ông Phan Văn L có nơi cư trú tại khu phố A, P. H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn bà N vắng mặt do có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn ông Phan Văn L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Bà Nguyễn Thị Yến N và ông Phan Văn L tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2024 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
[4.2] Trong quá trình giải quyết vụ án bà N cho rằng quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã xô xát nhau, không có tiếng nói chung. Bà N nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên căng thẳng, bà N cảm thấy ngột ngạt, không khí gia đình nặng nề, không có hạnh phúc. Điều này phù hợp với lời trình bày của bà Đặng Thị V là mẹ ruột bà N, bà V xác định vợ chồng bà N, ông L chung sống có nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân. Xét thấy, giữa bà N và Phan Văn L chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà N, cho bà N được ly hôn với Phan Văn L.
[4.3] Về con chung: Quá trình chung sống bà N và ông L có 01 con chung tên Phan Ngọc Khả Á sinh ngày 24/3/2024, bà N yêu cầu được nuôi và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà N có nguyện vọng nuôi con chung chưa thành niên, ông L không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà N. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà N, giao con chung Phan Ngọc Khả Á cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu
[4.4] Về cấp dưỡng nuôi con. Do bà N rút yêu cầu cấp dưỡng và việc rút yêu cầu của bà N là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên cần được xem xét chấp nhận
[4.5] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Yến N được ly hôn với ông Phan Văn L.
- Về con chung: Giao con chung tên Phan Ngọc Khả Á sinh ngày 24/3/2024 cho bà Nguyễn Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến N về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Yến N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004469 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ung Thị Ngọc Thanh |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôhn
