Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số:13/2025/HS-ST

Ngày:12/3/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh, ông Nguyễn Tiến Tịnh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.

Đại diện VKSND huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 12/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn H; sinh năm 2001; tại: tỉnh Đắk Nông; nơi ĐKHKTT và trú tại: TDP B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn H1, sinh năm 1967 và con bà Lê Thị Bích C, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Đ thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt)

Bị hại: Công ty TNHH MTV P2; Địa chỉ: A L, TDP A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Linh P, sinh năm 1972; Địa chỉ: A L, TDP A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  2. Bà Tạ Thị H2, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  3. Bà Trần Thị K, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  4. Ông Nguyễn Đình X, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  5. Bà Mã Thị Thu L, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  6. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  7. Bà Lê Thị Bích C, sinh năm 1970; Địa chỉ: TDP B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)
  8. Anh Phan Đức T2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  9. Anh Trần Quang T3, sinh năm 1999; Địa chỉ: TDP A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
  10. Chị Phạm Thị Hoài P1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn H là nhân viên của Công ty TNHH MTV P2, địa chỉ tại TDP A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Để có tiền tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2023 đến ngày 14/01/2024, Bùi Văn H được giao nhiệm vụ thu tiền từ các cửa hàng trên địa bàn huyện C và huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, trường hợp có cửa hàng yêu cầu chuyển khoản thì Bùi Văn H yêu cầu chuyển vào tài khoản Ngân hàng TMCP Đ1 số 6354013098 của Phạm Thị Hoài P1, sinh năm 2002, trú tại thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, là người yêu của H). Sau khi thu tiền, Bùi Văn H không thực hiện việc nộp tiền về Công ty theo quy định mà lấy lý do các cửa hàng chưa thanh toán để chiếm đoạt. Cụ thể:

  • + Ngày 16/11/2023, Bùi Văn H thu 47.566.000 đồng của cửa hàng T4 thuộc thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (do bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, làm chủ). Sau khi nhận tiền, Bùi Văn H không nộp về Công ty theo quy định mà nói với anh Trần Quang T3 (là kế toán Công ty) là cửa hàng T4 chưa trả tiền rồi chiếm đoạt 47.566.000 đồng để tiêu xài cá nhân.
  • + Ngày 11/01/2024, Bùi Văn H thu 7.600.000 đồng của cửa hàng T5 tại thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (do bà Tạ Thị H2, sinh năm 1976, làm chủ); thu 8.000.000 đồng của cửa hàng T6 tại thôn A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (do bà Trần Thị K, sinh năm 1976, làm chủ); thu 25.000.000 đồng của cửa hàng T7 tại thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (do ông Nguyễn Đình X, sinh năm 1964, làm chủ); thu 35.000.000 đồng của cửa hàng T8 tại thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (do bà Mã Thị Thu L, sinh năm 1966, làm chủ). Sau đó, Bùi Văn H không nộp về Công ty theo quy định mà nói với anh Trần Quang T3 là các cửa hàng trên chưa trả tiền rồi chiếm đoạt 75.600.000 đồng để tiêu xài cá nhân.
  • + Ngày 14/01/2024, Bùi Văn H thu 45.000.000 đồng của cửa hàng T9 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Nông (do ông Trần Văn T1, sinh năm 1979, làm chủ). Sau đó, Bùi Văn H không nộp về Công ty theo quy định mà nói với anh Trần Quang T3 là cửa hàng T9 chưa trả tiền rồi chiếm đoạt 45.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Tổng số tiền Bùi Văn H chiếm đoạt là 168.166.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố bị cáo Bùi Văn Hiếu về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353 BLHS và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tham ô tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 08 (tám) đến 09 (chín) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của BLTTHS; Áp dụng Điều 47 BLHS: Lưu theo hồ sơ vụ án các phiếu xuất kho giao hàng của Công ty TNHH MTV P2 vào các ngày 15/11/2023, 10/01/2024 và ngày 13/01/2024 làm tài liệu, chứng cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 168.166.000 đồng. Người đại diện theo pháp luật của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về các vấn đề khác: Đối với anh Trần Quang T3, do không biết bị cáo chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH MTV P2 nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Thị Hoài P1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã có quyết định số 162/QĐ-CSĐT ngày 25/12/2024 tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai của người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2023 đến ngày 14/01/2024, tại TDP A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Bùi Văn H (là nhân viên của Công ty TNHH MTV P2) đã nhiều lần lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc thu tiền từ các cửa hàng tạp hoá rồi chiếm đoạt tiền mà không nộp về Công ty theo quy định, cụ thể:

  • Vụ thứ nhất: Ngày 16/11/2023, Bùi Văn H thu 47.566.000 đồng của cửa hàng T4 nhưng không nộp về Công ty theo quy định mà chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân.
  • Vụ thứ hai: Ngày 11/01/2024, Bùi Văn H thu 7.600.000 đồng của cửa hàng tạp hoá L1; thu 8.000.000 đồng của cửa hàng T6; thu 25.000.000 đồng của cửa hàng T7; thu 35.000.000 đồng của cửa hàng T8 nhưng không nộp về Công ty theo quy định mà chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân.
  • Vụ thứ ba: Ngày 14/01/2024, Bùi Văn H thu 45.000.000 đồng của cửa hàng T9 nhưng không nộp về Công ty theo quy định mà chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân.

Tổng số tiền Bùi Văn H chiếm đoạt là 168.166.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353 BLHS.

Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tham ô tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

Điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • c) Phạm tội 02 lần trở lên;
  • d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.”

[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có đầy đủ nhận thức pháp luật để biết được quyền tài sản của cơ quan, tổ chức là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng quyền hạn được Doanh nghiệp là công ty TNHH MTV P2 giao quản lý tiền thu được sau khi giao hàng cho khách hàng, bị cáo đã 3 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt với tổng số tiền 168.166.000 đồng. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, làm mất uy tín của doanh nghiệp. Do đó, HĐXX cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 168.166.000 đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để bị cáo cải tạo, học tập, trở thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hội, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự: Đối với các phiếu xuất kho giao hàng của Công ty TNHH MTV P2 vào các ngày 15/11/2023, 10/01/2024 và ngày 13/01/2024 là tài liệu, chứng cứ cần lưu trong hồ sơ là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho cho Công ty TNHH MTV P2 toàn bộ thiệt hại số tiền 168.166.000 đồng. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường giữa gia đình bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với anh Trần Quang T3, do không biết bị cáo chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH MTV P2 nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Thị Hoài P1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã có quyết định số 162/QĐ-CSĐT ngày 25/12/2024 tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp nên cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tham ô tài sản”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

    Xử phạt: Bùi Văn H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/9/2024.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Lưu theo hồ sơ vụ án các phiếu xuất kho giao hàng của Công ty TNHH MTV P2 vào các ngày 15/11/2023, 10/01/2024 và ngày 13/01/2024 làm tài liệu, chứng cứ.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 BLDS: Chấp nhận bị cáo Bùi Văn H và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Công ty TNHH MTV P2 số tiền 168.166.000 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh ĐắkNông;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • -VKS ND huyện ĐắkMil;
  • -Đội điều tra Công an huyện Đắk Mil;
  • -Đội THAHS Công an huyện Đắk Mil;
  • -Bộ phận Nghiệp vụ CA huyện Đắk Mil;
  • -Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • -Bị cáo
  • -Những người tham gia tố tụng;
  • -Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Hiếu phạm tội Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger