TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/3/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Đầy
- Bà Phước Thị Kim Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Đào Trang, Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh: Ông Dương Văn Nhẹ, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần: Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đối với vụ án dân sự thụ lý số: 399/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Tăng Thị Bích T, sinh năm 2001 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Kim Sang S, sinh năm 1993; (vắng)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Hỗ trợ kỹ thuật tại hai điểm cầu, gồm có:
- Đồng chí Lê Chế L – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh hỗ trợ kỹ thuật tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Đồng chí Quách Trương L1, công tác tại Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh hỗ trợ kỹ thuật tại điểm cầu thành phần: Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2024 cũng như bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Tăng Thị Bích T trình bày: Chị và anh Kim S1 S do có quen biết nên tự nguyện cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 06/5/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống chung với cha mẹ chồng ở ấp T, xã T. Thời gian đầu, vợ chồng chị sống rất hạnh phúc và có được 01 người con chung tên Kim Sang Sum H, sinh ngày 09/12/2017. Đến tháng 01/2023 thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn do anh S không tôn trọng chị, không quan tâm chăm sóc vợ con, anh S thường bỏ bê công việc để tụ tập bạn bè uống rượu, khi về đến nhà anh S thường kiếm chuyện vô cớ, xúc phạm nhân phẩm của chị, thẩm chí anh S còn đánh đập chị. Vì muốn vợ chồng tiếp tục sống hạnh phúc nên chị đã cố gắng chịu đựng, khuyên can anh S sửa đổi tính tình nhưng anh S không sửa đổi dẫn đến cuộc sống vợ chồng chị không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau. Hiện vợ chồng chị đã ly thân với nhau, thời gian này vợ chồng chị không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Kim Sang S.
Về con chung: Quá trình sống chung với nhau, chị và anh Kim S1 S chỉ có 01 người con tên Kim Sang Sum H, sinh ngày 09/12/2017 hiện do anh S đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh Kim S1 S được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tăng Thị Bích T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Kim Sang S vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Tăng Thị Bích T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Kim Sang S; về con chung: chị đồng ý giao con chung Kim Sang S, sinh ngày 09/12/2017 (theo như nguyện vọng của con chung) cho anh Kim S1 S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập. Trên cơ sở các lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ; Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho chị Tăng Thị Bích T được ly hôn với anh Kim Sang S. Về con chung: Giao con chung Kim Sang S, sinh ngày 09/12/2017 (theo như nguyện vọng của con chung) cho anh Kim S1 S được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Chị Tăng Thị Bích T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Tăng Thị Bích T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Sang S, về con chung: chị Tăng Thị Bích T giao con chung cho anh Kim Sam S2 tiếp tục nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Bị đơn có địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý, Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, 208, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng bị đơn anh Kim Sang S đều vắng mặt không lý do, nguyên đơn chị Tăng Thị Bích T có đơn yêu cầu Tòa án không hòa giải vụ án nên Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không hòa giải được theo quy định. Tại phiên tòa, bị đơn anh Kim Sang S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[3] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Tăng Thị Bích T và anh Kim Sang S tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 06/5/2019. Đây là việc kết hôn hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình sống chung, chị Tăng Thị Bích T cho rằng vợ chồng không hạnh phúc luôn bất đồng quan điểm, anh Kim Sang S thường xuyên uống rượu, không chăm lo cho cuộc sống của gia đình nên đã làm cho cuộc sống hôn nhân của vợ chồng chị không còn hạnh phúc. Chị và anh Kim Sang S đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay.
Toà án đã tiến hành xác minh bà Trần Thị N là mẹ ruột của bị đơn anh Kim Sang S (Bút lục 23). Bà N cho rằng: Vợ chồng T - S kết hôn vào năm 2017, sau khi cưới thì sống chung với bà. Về nguyên nhân vợ chồng Thuỳ, S xảy ra mâu thuẫn dẫn tới ly thân thì bà không biết. Đối với Kim Sam S3 đã nhận được các thông báo của Toà án và biết được T yêu cầu ly hôn với S3, S3 đồng ý ly hôn với T và yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, S3 không yêu cầu T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có; nhưng do hiện S3 đang đi làm thuê nên không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án được.
Xét thấy, trong thời gian ly thân cho đến nay, chị Tăng Thị Bích T và anh Kim Sang S vẫn không thể hàn gắn lại được, vợ chồng đã bỏ mặt nhau, không còn quan tâm nhau nữa. Tòa án đã mời các bên hòa giải nhưng không được. Đối với bị đơn anh Kim Sang S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến phản bác đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Tăng Thị Bích T nên anh Kim Sang S đã bỏ mặt, không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân này, thể hiện rằng anh S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Tăng Thị Bích T. Ngoài ra, thông tin do bà Trần Thị N cung cấp cũng thể hiện ý kiến của anh Kim S1 S là đồng ý ly hôn với chị Tăng Thị Bích T.
Từ các nhận định, phân tích trên có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Tăng Thị Bích T và anh Kim Sang S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Tăng Thị Bích T yêu cầu ly hôn với anh Kim Sang S là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Tăng Thị Bích T được ly hôn với anh Kim Sang S.
- Về con chung: Chị Tăng Thị Bích T và anh Kim Sang S có 01 người con chung tên Kim Sang Sum H, sinh ngày 09/12/2017. Hiện cháu Sum H đang được anh S nuôi dưỡng, phát triển bình thường. Anh Kim Sang S cũng có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con và chị T cũng đồng ý giao con chung cho anh S được quyền nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Sum H đang sinh sống cùng với cha là anh Kim Sang S, cháu phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu về môi trường sống (nơi ở, trường học, sinh hoạt hằng ngày) và không gây ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của cháu. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở, căn cứ để giao cháu Kim Sang Sum H, sinh ngày 09/12/2017 cho anh Kim Sang S được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và cũng phù hợp nguyện vọng của cháu S Hộp là muốn được sống chung với cha là anh Kim Sang S (Bút lục số 22). Chị T là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích về phần cấp dưỡng nuôi con đối với quyền và nghĩa vụ của người nuôi con và người không trực tiếp nuôi con. Nhưng chị T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, anh Kim Sam S2 cũng không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Tăng Thị Bích T trình bày không có, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Tăng Thị Bích T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Tăng Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ pháp luật như đã nhận định nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tăng Thị Bích T:
- - Về hôn nhân: Cho chị Tăng Thị Bích T được ly hôn với anh Kim Sang S.
- - Về con chung: Giao cháu Kim Sang Sum H, sinh ngày 09/12/2017 cho anh Kim Sang S được quyền tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con (phù hợp với nguyện vọng của con chung).
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tăng Thị Bích T, anh Kim Sang S đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Chị Tăng Thị Bích T đều trình bày không có, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về nợ chung: Chị Tăng Thị Bích T đều trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tăng Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm này nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002838 ngày 06/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nên chị Tăng Thị Bích T đã nộp án phí xong.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiên Thị Minh Hiếu |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (cho ly hôn) - xét xử trực tuyến
