|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI THÀNH PHỐ LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày 10 – 3 – 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Hóa;
- Ông Hoàng Văn Ngân;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 276/2024/TLST - HNGĐ ngày 05/12/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/02/2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1983
Đăng ký thường trú và nơi ở: Tổ G, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Văn Ú, sinh năm 1981
Đăng ký thường trú: Tổ G, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:
Chị và anh Phạm Văn Ú có đăng ký kết hôn ngày 21/7/2004 tại UBND xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nhưng từ tháng 3/2023 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không tin tưởng nhau, luôn bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế nên thường xuyên dẫn đến cãi chửi nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng cuộc sống chung không cải thiện được. Chị và anh Ú đã sống ly thân từ cuối tháng 11/2024, từ khi ly thân không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như về kinh tế. Nay chị Phạm Thị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn Ú.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Phạm Thị T có 03 con chung là cháu Phạm Thùy D, sinh ngày 23/01/2005, cháu Phạm Đoàn A, sinh ngày 18/7/2007 và cháu Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 30/4/2014. Cháu Phạm Thùy D đã đủ tuổi trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Phạm Đoàn A, Phạm Hoàng Gia B cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tại bản tự khai và biên bản hòa giải chị yêu cầu anh Phạm Văn Ú cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Gia B 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi nhưng tại phiên tòa chị chỉ yêu cầu anh Phạm Văn Ú cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Gia B 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Hiện nay chị Phạm Thị T làm tự do, buôn bán chế biến nông sản với mức thu nhập trung bình khoảng 25.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị Thu N chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Bị đơn anh Phạm Văn Ú tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Anh và chị Phạm Thị T có đăng ký kết hôn ngày 21/7/2004 tại UBND xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống và trong làm ăn kinh tế nên thường xuyên dẫn đến cãi chửi nhau. Có lần anh nghi ngờ vợ có mối quan hệ tình cảm với người khác nên đã đánh chị Phạm Thị T, từ đó anh có kiểm soát cuộc sống của vợ nên vợ chồng ngày càng mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024, chị T ở nhà tại tổ G, phường B, thành phố L, còn anh thuê nhà ở riêng. Đến nay chị Phạm Thị T đơn xin ly hôn thì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên quan điểm của anh là không nhất trí ly hôn với chị Phạm Thị T.
Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị Phạm Thị T có 03 con chung là cháu Phạm Thùy D, sinh ngày 23/01/2005, cháu Phạm Đoàn A, sinh ngày 18/7/2007 và cháu Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 30/4/2014. Nếu phải ly hôn anh nhất trí để chị Phạm Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Đoàn A, Phạm Hoàng Gia B cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Gia B 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi đủ 18 tuổi. Cháu Phạm Thùy D đã đủ 18 tuổi nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Phạm Văn Ú hiện nay đang làm tự do chế biến nông lâm sản nên không cung cấp được xác nhận mức thu nhập nhưng anh khẳng định mức thu nhập trung bình là 30.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Toà án cho các đương sự đầy đủ, đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn yêu cầu về việc đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Phạm Văn Ú và được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Đoàn A, Phạm Hoàng Gia B đến khi đủ 18 tuổi, yêu cầu anh Phạm Văn Ú cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Gia B 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Phạm Thị T và anh Phạm Văn Ú kết hôn ngày 21/7/2004 tại UBND xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, làm ăn kinh tế, thiếu sự tôn trọng nhau, không tin tưởng, nghi ngờ nhau dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được. Mâu thuẫn vợ chồng mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành. Anh chị đã sống ly thân, từ khi ly thân anh chị không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như về kinh tế. Tại phiên hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn. Xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 điều 51; Khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị T là phù hợp.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 03 con chung là cháu Phạm Thùy D, sinh ngày 23/01/2005, cháu Phạm Đoàn A, sinh ngày 18/7/2007 và cháu Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 30/4/2014. Cháu Phạm Thùy D đã đủ 18 tuổi nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong thời gian anh chị xảy ra mâu thuẫn chị Phạm Thị T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Đoàn A và cháu Phạm Hoàng Gia B. Tòa án đã hỏi ý kiến cháu Phạm Đoàn A, Phạm Hoàng Gia B. Cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở cùng chị Phạm Thị T. Chị Phạm Thị T làm tự do, buôn bán chế biến nông sản với mức thu nhập trung bình khoảng 25.000.000 đồng/tháng, chị T yêu cầu anh Phạm Văn Ú cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Gia B 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Phạm Văn Ú hiện nay đang làm tự do chế biến nông lâm sản nên không cung cấp được xác nhận mức thu nhập nhưng anh khẳng định mức thu nhập trung bình là 30.000.000 đồng/tháng. Xét thấy chị Phạm Thị T có đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Đoàn A và cháu Phạm Hoàng Gia B đến khi đủ 18 tuổi. Do vậy, giao cháu Phạm Đoàn A và cháu Phạm Hoàng Gia B cho chị Phạm Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi, Anh Phạm Văn Ú có công việc và thu nhập nên đủ điều kiện để cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Gia B 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Phạm Thị Thu N chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5, khoản 6 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Phạm Văn Ú, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Giao cháu Phạm Đoàn A, sinh ngày 18/7/2007 và cháu Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 30/4/2014 cho chị Phạm Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Phạm Văn Ú cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Gia B 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Phạm Văn Ú được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
-
Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí số 0000998 ngày 05/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chị Phạm Thị T còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
-
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM THỊ T - PHẠM VĂN Ú
