|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/DS-ST
Ngày 07 tháng 03 năm 2025
V/V: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Biên.
- Ông Trịnh Văn Nhất.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 141/2024/TLST-DS ngày 24/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 08/01/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 15/2025/QĐST-DS ngày 07/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Chu Bá V, sinh năm 1971;
- Bị đơn: Chị Lê Thị Phương A, sinh năm 1993.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
(Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã S (nay là tổ dân phố T, phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Chu Bá V trình bày:
Ngày 04/5/2022 (dương lịch), ông và vợ là Phạm Thị H có cho chị Lê Thị Phương A vay số tiền 100.000.000 đồng. Khi vay chị Phương A có viết cho vợ chồng ông 0 giấy vay tiền để làm tin. Mục đích vay tiền chị Phương A trình bày là để kinh doanh. Thời hạn vay là ngày 4/6/2022 (dương lịch). Lãi xuất thoả thuận miệng của 2 bên là 6.000.000 đồng/tháng. Trong giấy vay tiền có cả chữ ký của bà Nguyễn Thị Hương G là mẹ chị Phương A nhưng bà G chỉ là người làm chứng chứ khoản vay này cũng không liên quan gì đến bà G.
Ngày 03/3/2023 (âm lịch), ông và vợ là Phạm Thị H tiếp tục cho chị Lê Thị Phương A vay số tiền 18.000.000 đồng. Khi vay chị Phương A có viết cho vợ chồng ông 0 giấy vay tiền để làm tin. Mục đích vay tiền chị Phương A trình bày là để kinh doanh. Thời hạn vay là ngày 12/3/2023 (âm lịch). Lãi xuất các bên chỉ thoả thuận miệng là 6.000.000 đồng/tháng.
Ông xác nhận chị Phương A đã trả tiền lãi cho vợ chồng ông tổng số tiền 25.000.000 đồng (ngày 3/6/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 5/7/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 8/9/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 26/01/2023 trả 7.000.000 đồng).
Nay ông khởi kiện yêu cầu cá nhân chị Lê Thị Phương A trả ông và bà Phạm Thị H số tiền 118.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc kể từ thời điểm hết hạn của từng khoản vay đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 10%/năm. Số tiền lãi tạm tính đến tháng 8/2024 là 22.991.000 đồng.
Bị đơn chị Lê Thị Phương A trình bày:
Ông Chu Bá V và bà Phạm Thị H là bạn của bố mẹ chị nên chị có quen biết ông V, bà H. Ngày 04/5/2022 (dương lịch), chị có vay của ông V, bà H số tiền 100.000.000 đồng. Mục đích vay tiền là để giải quyết việc cá nhân, không liên quan gì đến chồng hay gia đình chị. Khi vay chị có viết giấy vay tiền cho ông V, bà H. Chị xác nhận giấy vay tiền đề ngày 04/5/2022 đúng là chữ viết và chữ ký của chị. Trong giấy vay tiền có cả chữ ký của mẹ chị là Nguyễn Thị Hương G nhưng mẹ chị chỉ là người làm chứng chứ khoản vay này không liên quan gì đến mẹ chị. Thời hạn vay là ngày 4/6/2022 (dương lịch). Lãi xuất là 6.000.000 đồng/tháng.
Kể từ khi vay tiền, hàng tháng, mỗi tháng chị đều trả cho ông V bà H đủ 6.000.000 đồng tiền lãi. Tổng số tiền lãi chị đã trả cho ông V, bà H là 42.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- - Ngày 03/6/2022, chị trả tiền lãi 6.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của chị 1 tại Ngân hàng TMCP K đến tài khoản bà Phạm Thị H tại Ngân hàng N.
- - Ngày 05/7/2022, chị trả tiền lãi 6.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của chị 1 tại Ngân hàng TMCP K đến tài khoản bà Phạm Thị H tại Ngân hàng N.
- - Ngày 08/9/2022, chị trả tiền lãi 6.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của chị 1 tại Ngân hàng TMCP K đến tài khoản bà Phạm Thị H tại Ngân hàng N.
- - Ngày 26/01/2023, chị trả ông V, bà H số tiền lãi 7.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của chị 9 tại Ngân hàng TMCP V1 đến tài khoản ông Chu Bá V tại Ngân hàng N. Lý do ngày 23/01/2023 chị trả lãi 7.000.000 đồng vì tháng 11/2022 chị trả lãi bà H 5.000.000 đồng, thiếu 1.000.000 đồng nên đến ngày 23/01/2023 khi ông V đến đòi tiền thì chị trả tiền lãi là 7.000.000 đồng.
Ngoài ra, có 1 tháng chị trả tiền mặt và có thể chị dùng tài khoản khác để trả ông V, bà H nhưng đến nay không cung cấp được cho Toà án.
Từ tháng 01/2023-03/2023, do không trả được tiền lãi cho ông V, bà H nên ông V bà H có yêu cầu chị viết số tiền lãi thành 1 tờ giấy vay tiền nữa. Chị xác nhận giấy vay tiền ngày 03/3/2023 mà ông V nộp đúng là chữ viết và chữ ký của chị nhưng không phải là chị vay thêm 18.000.000 đồng ngày 03/3/2023 mà là do chị không trả lãi của 3 tháng (tháng 01, tháng 2, tháng 3 năm 2023) nên chị mới viết giấy cho ông V, bà H như vậy. Việc chị trình bày ở trên thì chị không có tài liệu gì chứng minh. Sau đó, chị không trả thêm được khoản tiền nào cho ông V, bà H nữa.
Nay ông V khởi kiện yêu cầu chị trả 118.000.000 đồng tiền gốc và 22.991.000 đồng tiền lãi thì chị chỉ đồng ý trả ông V, bà H 100.000.000 đồng tiền gốc theo giấy vay tiền 04/5/2022. Chị không đồng ý trả tiền gốc 18.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 3/3/2023. Về tiền lãi, chị chỉ đồng ý trả tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với khoản tiền gốc 100.000.000 đồng nhưng đề nghị Toà án đối trừ khoản tiền lãi 42.000.000 đồng mà chị đã trả.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H trình bày:
Ngày 04/5/2022 (dương lịch), bà và chồng là Chu Bá V có cho chị Lê Thị Phương A vay số tiền 100.000.000 đồng. Khi vay chị Phương A có viết cho vợ chồng bà 0 giấy vay tiền để làm tin. Mục đích vay tiền chị Phương A trình bày là để kinh doanh. Thời hạn vay là ngày 4/6/2022 (dương lịch). Lãi xuất thoả thuận miệng của 2 bên là 6.000.000 đồng/tháng. Trong giấy vay tiền có cả chữ ký của bà Nguyễn Thị Hương G là mẹ chị Phương A nhưng bà G chỉ là người làm chứng chứ khoản vay này cũng không liên quan gì đến bà G.
Ngày 03/3/2023 (âm lịch), bà và chồng là Chu Bá V tiếp tục cho chị Lê Thị Phương A vay số tiền 18.000.000 đồng. Khi vay chị Phương A có viết cho vợ chồng bà 0 giấy vay tiền để làm tin. Mục đích vay tiền chị Phương A trình bày là để kinh doanh. Thời hạn vay là ngày 12/3/2023 (âm lịch). Lãi xuất các bên chỉ thoả thuận miệng là 6.000.000 đồng/tháng.
Bà xác nhận chị Phương A đã trả tiền lãi cho vợ chồng bà tổng số tiền 25.000.000 đồng (ngày 3/6/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 5/7/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 8/9/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 26/01/2023 trả 7.000.000 đồng).
Nay ông V khởi kiện yêu cầu cá nhân chị Lê Thị Phương A trả ông V và bà số tiền 118.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc kể từ thời điểm hết hạn của từng khoản vay đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 10%/năm, số tiền lãi tạm tính đến tháng 8/2024 là 22.991.000 đồng. Quan điểm của bà là đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông V vì đây là khoản tiền chung của cả hai vợ chồng bà.
*Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ.
- - Tại Biên bản làm việc ngày 18/02/2025, anh Nguyễn Huy Q (chồng chị Lê Thị Phương A) trình bày: Anh không biết và không liên quan gì đến khoản tiền mà ông Chu Bá V khởi kiện vợ anh Lê Thị Phương A. Anh không biết ông V cho vợ anh vay tiền khi nào, vay bao nhiêu tiền. Đến khi ông V khởi kiện tại Toà án thì chị Phương A mới thông báo cho anh biết. Do chị Phương A không sử dụng gì số tiền đã vay vào mục đích chung của gia đình anh, anh không được biết, được bàn bạc hay cùng chị Phương A sử dụng tiền đã vay nên anh đề nghị Toà án không đưa anh vào tham gia tố tụng trong vụ án. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định.
- - Tại Công văn số 123/2025/TCB-BGN ngày 04/3/2025, Ngân hàng TMCP K Chi nhánh B cung cấp thông tin: tên khách hàng: Lê Thị Phương A; số tài khoản: 19033633888015; thông tin chủ tài khoản: ngày sinh 1993, CMND [...], địa chỉ liên lạc: thôn T, xã S, thành phố B. Ngoài ra, Ngân hàng TMCP K Chi nhánh B cung cấp Bản sao kê tài khoản đối ứng từ ngày 04/05/2022 đến ngày 04/02/2023.
*Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên đối chất nhưng các đương sự giữ nguyên quan điểm, không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay:
*Nguyên đơn ông Chu Bá V trình bày: Ông yêu cầu chị Phương A trả ông và bà H số tiền gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi của khoản tiền gốc 100.000.000 đồng kể từ ngày 27/01/2023 dương lịch (là ngày chị P không trả lãi cho ông bà cho đến nay) đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm; yêu cầu chị Phương A trả ông và bà H số tiền gốc 18.000.000 đồng và tiền lãi của khoản tiền gốc 18.000.000 đồng kể từ ngày 12/03/2023 âm lịch (ngày đến hạn của khoản vay gốc 18.000.000 đồng) đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm. Đối với bản sao kê tài khoản của Ngân hàng TMCP N1 do chị Phương A cung cấp tại phiên toà, ông xác nhận chị Phương A đã trả 6.000.000 đồng tiền lãi ngày 06/12/2022.
*Bị đơn chị Lê Thị Phương A trình bày: Chị giữ nguyên ý kiến chỉ đồng ý trả ông V, bà H 100.000.000 đồng tiền gốc theo giấy vay tiền 04/5/2022. Chị không đồng ý trả tiền gốc 18.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 3/3/2023. Về tiền lãi, chị chỉ đồng ý trả tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với khoản tiền gốc 100.000.000 đồng nhưng đề nghị Toà án đối trừ khoản tiền lãi 42.000.000 đồng mà chị đã trả.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H trình bày: Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chồng bà ông V. Đối với bản sao kê tài khoản của Ngân hàng TMCP N1 do chị Phương A cung cấp tại phiên toà, bà xác nhận chị Phương A đã trả 6.000.000 đồng tiền lãi ngày 06/12/2022.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- - Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông V đối với số tiền gốc 100.262.000 đồng và tiền lãi 20.678.000 đồng; Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông V đối với số tiền gốc 17.738.000 đồng. Về án phí: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc 100.000.000 đồng theo giấy vay tiền 04/5/2022, số tiền gốc 18.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 3/3/2023 và tiền lãi của 2 khoản tiền gốc trên nên cần xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn ông Chu Bá V yêu cầu cá nhân chị Lê Thị Phương A trả ông và bà Phạm Thị H số tiền 118.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc kể từ thời điểm hết hạn của từng khoản vay đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 10%/năm. Tại phiên toà, nguyên đơn ông V thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chị Phương A trả ông và bà H số tiền gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi của khoản tiền gốc 100.000.000 đồng kể từ ngày 27/01/2023 dương lịch (là ngày chị P không trả lãi cho ông bà cho đến nay) đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm; yêu cầu chị Phương A trả ông và bà H số tiền gốc 18.000.000 đồng và tiền lãi của khoản tiền gốc 18.000.000 đồng kể từ ngày 12/03/2023 âm lịch (ngày đến hạn của khoản vay gốc 18.000.000 đồng) đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông V không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên cần chấp nhận.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Đối với khoản vay 100.000.000 đồng ngày 04/5/2022 (dương lịch):
Ông V, bà H và chị Phương A đều thừa nhận ngày 04/5/2022 (dương lịch) ông V, bà H có cho chị Phương A vay số tiền 100.000.000 đồng. Khi vay tiền, chị Phương A có viết giấy vay tiền và đã xác nhận chữ ký và chữ viết tại giấy vay tiền mà ông V nộp cho Toà án đúng là của chị. Theo giấy vay tiền ngày 04/5/2022 (dương lịch) thì thời hạn vay là ngày 04/6/2022 (dương lịch); Các bên đều thừa nhận có thoả thuận lãi suất 6.000.000 đồng/tháng nên đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi.
Chị Phương A trình bày đã trả 42.000.000 đồng tiền lãi bao gồm 31.000.000 đồng là tiền lãi trả bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản của ông V và bà H (ngày 3/6/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 5/7/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 8/9/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 06/12/2022 trả 6.000.000 đồng, ngày 26/01/2023 trả 7.000.000 đồng) và 11.000.000 đồng là trả tiền mặt và có cả tiền chuyển khoản nhưng không cung cấp được sao kê tài khoản. Ông V, bà H chỉ thừa nhận chị Phương A đã trả 31.000.000 đồng tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản, có sao kê của Ngân hàng, không thừa nhận chị Phương A đã trả số tiền lãi 11.000.000 đồng. Do chị Phương A không xuất trình được chứng cứ nên chỉ có sơ sở xác định chị Phương A đã trả 31.000.000 đồng tiền lãi.
Tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Tại Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay”.
Việc các bên thoả thuận tiền lãi 6.000.000 đồng/tháng tương ứng với 6%tháng và 75%/năm là vi phạm quy định khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên căn cứ Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất quy định (lãi suất theo quy định là 20%/năm, tương ứng 1,66%/tháng, tương ứng 0,06%/ngày) được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi.
Ngày 04/5/2022 (dương lịch), chị Phương A vay 100.000.000 đồng. Ngày 03/6/2022 dương lịch, chị Phương A trả 6.000.000 đồng lãi. Tiền lãi tính từ ngày 05/5/2022 (dương lịch) đến ngày 03/6/2022 (dương lịch) mà chị Phương A phải trả là: (100.000.000 đồng x 0,06% x 28 ngày)=1.680.000 đồng. Do số tiền lãi mà chị Phương A trả vượt quá tiền lãi phải trả theo quy định nên số tiền vượt quá (6.000.000 đồng - 1.680.000 đồng = 4.320.000 đồng) sẽ trừ vào nợ gốc. Như vậy, đến ngày 03/6/2022 (dương lịch), số gốc mà chị Phương A còn nợ là: 100.000.000 đồng-4.320.000 đồng=95.680.000 đồng.
Ngày 05/7/2022 (dương lịch), chị Phương A trả 6.000.000 đồng lãi. Tiền lãi tính từ ngày 04/6/2022 (dương lịch) đến ngày 05/7/2022 (dương lịch) mà chị Phương A phải trả là: (95.680.000 đồng x 1,66% x 1 tháng) + (95.680.000 đồng x 0,06% x 1 ngày)=1.645.000 đồng. Do số tiền lãi mà chị Phương A trả vượt quá tiền lãi phải trả theo quy định nên số tiền vượt quá (6.000.000 đồng - 1.645.000 đồng = 4.355.000 đồng) sẽ trừ vào nợ gốc. Như vậy, đến ngày 05/7/2022 (dương lịch), số gốc mà chị Phương A còn nợ là: 95.680.000 đồng-4.355.000 đồng=91.325.000 đồng.
Ngày 08/9/2022 (dương lịch), chị Phương A trả 6.000.000 đồng lãi. Tiền lãi tính từ ngày 06/7/2022 (dương lịch) đến ngày 08/9/2022 (dương lịch) mà chị Phương A phải trả là: (91.325.000 đồng x 1,66% x 2 tháng) + (91.325.000 đồng x 0,06% x 2 ngày)=3.140.000 đồng. Do số tiền lãi mà chị Phương A trả vượt quá tiền lãi phải trả theo quy định nên số tiền vượt quá (6.000.000 đồng - 3.140.000 đồng = 2.860.000 đồng) sẽ trừ vào nợ gốc. Như vậy, đến ngày 08/9/2022 (dương lịch), số gốc mà chị Phương A còn nợ là: 91.325.000 đồng - 2.860.000 đồng =88.465.000 đồng.
Ngày 06/12/2022 (dương lịch), chị Phương A trả 6.000.000 đồng lãi. Tiền lãi tính từ ngày 09/9/2022 (dương lịch) đến ngày 06/12/2022 (dương lịch) mà chị Phương A phải trả là: (88.465.000 đồng x 1,66% x 2 tháng) + (88.465.000 đồng x 0,06% x 27 ngày)=4.368.000 đồng. Do số tiền lãi mà chị Phương A trả vượt quá tiền lãi phải trả theo quy định nên số tiền vượt quá (6.000.000 đồng - 4.368.000 đồng = 1.632.000 đồng) sẽ trừ vào nợ gốc. Như vậy, đến ngày 08/9/2022 (dương lịch), số gốc mà chị Phương A còn nợ là: 88.465.000 đồng-1.630.000 đồng =86.833.000 đồng.
Ngày 26/01/2023 (dương lịch), chị Phương A trả 7.000.000 đồng lãi. Tiền lãi tính từ ngày 07/12/2022 (dương lịch) đến ngày 26/01/2023 (dương lịch) mà chị Phương A phải trả là: (86.833.000 đồng x 1,66% x 1 tháng) + (86.833.000 đồng x 0,06% x 19 ngày)=2.429.000 đồng. Do số tiền lãi mà chị Phương A trả vượt quá tiền lãi phải trả theo quy định nên số tiền vượt quá (7.000.000 đồng - 2.429.000 đồng = 4.571.000 đồng) sẽ trừ vào nợ gốc. Như vậy, đến ngày 26/01/2023 (dương lịch), số gốc mà chị Phương A còn nợ là: 86.833.000 đồng – 4.571.000 đồng =82.262.000 đồng.
Từ ngày 27/01/2023 đến nay, chị Phương A không trả được khoản tiền gốc và lãi nào. Ông V yêu cầu chị Phương A trả tiền lãi kể từ ngày 27/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/3/2025) theo mức lãi suất 10%/năm. Mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu 10%/năm (tương ứng với 0,83%/tháng, 0,027%/ngày) là phù hợp với quy định của khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên cần được chấp nhận. Thời gian tính lãi từ ngày 27/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (07/3/2025) tương đương với 02 năm 01 tháng 10 ngày. Tiền lãi được tính như sau: (82.262.000 đồng x 10% x 2 năm) + (82.262.000 đồng x 0,83% x 1 tháng) + (82.262.000 đồng x 0,027%/ngày x 10 ngày) = 17.355.000 đồng.
Như vậy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/3/2025), chị Phương A phải trả ông V, bà H 82.262.000 đồng tiền gốc và 17.355.000 đồng tiền lãi.
[3.2] Đối với khoản vay 18.000.000 đồng ngày 03/3/2023 (âm lịch), tức ngày 22/4/2023 (dương lịch).
Chị Phương A thừa nhận chữ viết và chữ ký tại giấy vay tiền mà ông V nộp cho Toà án đúng là của chị nhưng ngày 03/3/2023 chị không vay tiền ông V, bà H mà do chị không trả được lãi cho ông V từ tháng 01-03/2023 nên ông V bà H gộp lại thành khoản vay mới và yêu cầu chị viết giấy vay. Ông V, bà H không thừa nhận lời trình bày của chị Phương A. Ngoài lời trình bày, chị Phương A không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận ý kiến của chị Phương A và xác định khoản vay 18.000.000 đồng ngày 3/3/2023 (âm lịch), tức ngày 22/4/2023 (dương lịch) là khoản tiền gốc.
Theo Giấy vay tiền ngày 03/3/2023 (âm lịch) thể hiện thời hạn vay là ngày 12/3/2023 (âm lịch) tức ngày 01/5/2023 (dương lịch), không có nội dung thỏa thuận gì về tiền lãi đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi.
Tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Ông V yêu cầu chị Phương A trả tiền lãi kể từ ngày đến hạn khoản vay là ngày 12/3/2023 (âm lịch) tức ngày 01/5/2023 (dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/3/2025) theo mức lãi suất 10%/năm. Mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu 10%/năm (tương ứng với 0,83%/tháng, 0,027%/ngày) là phù hợp với quy định của khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên cần được chấp nhận. Thời gian tính lãi từ ngày 01/05/2023 (dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm (07/3/2025) tương đương với 01 năm 10 tháng 6 ngày. Tiền lãi được tính như sau: (18.000.000 đồng x 10% x 1 năm) + (18.000.000 đồng x 0,83% x 10 tháng) + (18.000.000 đồng x 0,027%/ngày x 6 ngày) = 3.323.000 đồng.
Như vậy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/3/2025), chị Phương A phải trả ông V, bà H 18.000.000 đồng tiền gốc và 3.323.000 đồng tiền lãi.
[3.3] Tổng hợp cả 2 khoản vay, chị Phương A phải trả ông V, bà H tổng số tiền gốc là: 82.262.000 đồng + 18.000.000 đồng=100.262.000 đồng.
Tổng số tiền lãi của cả 2 khoản vay mà chị Phương A phải trả ông V, bà H là: 17.355.000 đồng+ 3.323.000 đồng =20.678.000 đồng.
Do đó, cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông V đối với số tiền gốc 100.262.000 đồng và tiền lãi 20.678.000 đồng; Không có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông V đối với số tiền gốc 17.738.000 đồng.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Yêu cầu của nguyên đơn ông V đối với số tiền gốc 100.262.000 đồng và tiền lãi 20.678.000 đồng được chấp nhận nên số tiền án phí dân sự sơ thẩm mà chị Phương A phải chịu =(100.262.000 đồng+20.678.000 đồng)x5%= 6.047.000 đồng; Yêu cầu của nguyên đơn ông V đối với số tiền gốc 17.738.000 đồng không được chấp nhận nên số tiền án phí dân sự sơ thẩm mà ông V phải chịu =17.738.000 đồng x5%= 886.000 đồng;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 460, khoản 4, khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 5 và Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 244, khoản 1 Điều 147, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Chu Bá V về việc yêu cầu chị Lê Thị Phương A phải trả ông Chu Bá V và bà Phạm Thị H số tiền gốc 100.262.000 đồng và tiền lãi 20.678.000 đồng;
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Chu Bá V về việc yêu cầu chị Lê Thị Phương A phải trả ông Chu Bá V và bà Phạm Thị H số tiền gốc 17.738.000 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
- - Bị đơn chị Phương A phải chịu 6.047.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Nguyên đơn ông Chu Bá V phải chịu 886.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.524.000 đồng tại Biên lai số 0002089 ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Hoàn trả ông V số tiền tạm ứng án phí là 2.638.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 13/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Bá V- Lê Thị Phương A "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
