|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/3/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Văn Dũng.
- Bà Trần Thị Ngọc Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà:
Chau Pho Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 417/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 08, ấp An Thạnh, xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Văn Mãi, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ 01, ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ và ông Dương Văn Mãi do tự tìm hiểu và tự nguyện đi đến xác lập hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang vào năm 2023. Quá trình chung sống một thời gian khá hạnh phúc nhưng một hai năm nay bà Thuỷ, ông Mãi bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn như sống không hợp nhau, ông Mãi là người nghiện rượu, nhậu nhẹt hằng ngày, thậm chí đã nhiều lần bạo lực với bà Thuỷ và còn hăm doạ sẽ đánh, giết bà Thuỷ. Do đó, bà Thuỷ và ông Mãi đã sống ly thân từ khoảng tháng 11/2023 đến nay. Nay bà Thuỷ suy nghĩ kỹ và nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục đời sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Thuỷ yêu cầu ly hôn đối với ông Dương Văn Mãi.
Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Thuỷ và ông Mãi có một con chung tên Dương Ngọc Ánh, sinh ngày 22/10/2018, hiện cháu Dương Ngọc Ánh đang sống với bà Thuỷ, khi ly hôn bà Thuỷ yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và bà Thuỷ không yêu cầu ông Dương Văn Mãi cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Thuỷ tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Dương Văn Mãi vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Dương Văn Mãi vắng mặt.
* Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ đối với ông Dương Văn Mãi; Về con chung: Giao cháu Dương Ngọc Ánh cho bà Thuỷ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Dương Văn Mãi và yêu cầu trực tiếp nuôi con chung. Vậy, Toà án xác định tranh chấp giữa các đương sự về ly hôn, tranh chấp nuôi con; bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Tri Tôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Thuỷ và ông Mãi tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 23, ngày 27/4/2023 là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân giữa bà Thuỷ và ông Mãi là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Thuỷ đối với ông Mãi, bà Thuỷ cho rằng vợ chồng sống không hợp nhau, ông Mãi là người nghiện rượu, nhậu nhẹt hằng ngày, thậm chí đã nhiều lần bạo lực với bà Thuỷ và còn hăm doạ sẽ đánh, giết bà Thuỷ. Từ đó, bà Thuỷ và ông Mãi đã sống ly thân từ khoảng 11/2023 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà Thuỷ, Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Mãi nhưng ông Mãi không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Thuỷ và Tòa án đã triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải, mục đích tạo điều kiện cho hai bên hòa giải, động viên cho các bên được đoàn tụ. Tuy nhiên, ông Mãi cố tình né tránh và đều vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa không rõ lý do. Từ đó cho thấy ông Mãi không quan tâm, lo lắng gì đến hôn nhân và gia đình của mình, mặc cho cuộc hôn nhân có kết quả như thế nào.
Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà Thuỷ và ông Mãi. Tại biên bản xác minh do Tòa án lập ngày 12/02/2025, địa phương cho biết về tình trạng hôn nhân giữa bà Thuỷ và ông Mãi địa phương chỉ biết hai người có mâu thuẫn nhưng không rõ mâu thuẫn về vấn đề gì và họ đã ly thân từ tháng 11/2023 cho nay. Bà Thuỷ, ông Mãi có một con chung tên Dương Ngọc Ánh hiện đang sống chung với bà Thuỷ.
Từ những nguyên nhân, cơ sở trên xét thấy, hôn nhân giữa bà Thuỷ và ông Mãi đã lâm vào tình trạng trầm trọng không, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Thuỷ yêu cầu ly hôn với ông Mãi là có căn cứ chấp nhận nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thuỷ đối với ông Mãi.
[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Thuỷ và ông Mãi có một con chung tên Dương Ngọc Ánh, sinh ngày 22/10/2018. Khi ly hôn bà Thuỷ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi bà Thuỷ và ông Mãi sống ly thân cháu Dương Ngọc Ánh do bà Thuỷ trực tiếp dưỡng và bà Thuỷ luôn đảm bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Từ đó, cho thấy yêu cầu của bà Thuỷ có cơ sở chấp nhận nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Dương Ngọc Ánh cho bà Thuỷ trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng: Do bà Thuỷ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thuỷ tự thoả thuận không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà Thuỷ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ.
Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ được ly hôn với ông Dương Văn Mãi.
- Về quan hệ con chung: Giao cháu Dương Ngọc Ánh, sinh ngày 22/10/2018 cho bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ trực tiếp nuôi dưỡng.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0012896 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chau Dau |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Thuỳ yêu cầu với ông Mãi
