|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 07-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên.
Bà Bùi Thị Thanh Yên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Phú H, sinh ngày: 07/7/2001, tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Phú H1, sinh năm 1977 và bà Lê Thị M, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 02 người con, lớn nhất là bị cáo và nhỏ nhất sinh năm 2005; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 27/6/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2024, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/12/2022, bị Công an xã P, huyện N xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/10/2024, chuyển tạm giam ngày 28/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, PC A, Công an tỉnh N (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị Minh T1, sinh năm; 1970, địa chỉ: Khu phố D, phường B, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bà Lê Thị M (C), sinh năm: 1979, địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 20/10/2024, Võ Phú H gọi điện cho bạn gái là Lê Thị V, sinh năm 2004, trú tại thôn V, xã P, huyện T nhưng không liên lạc được nên H đã đến nhà của V tại thôn V, xã P, huyện T để tìm V. Do thấy cửa sau không khóa nên H đi vào trong nhà, khi đi qua phòng ngủ của Lê Thanh T (anh trai V) thấy có 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu vàng ở dưới sàn nhà nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H đi vào trong phòng lấy lắc tay của anh T và thấy cánh cửa tủ gỗ trong phòng anh T không đóng, H tiếp tục kéo ngăn kéo tủ gỗ phía dưới ra thì phát hiện 05 (năm) tờ tiền mệnh ngoại tệ gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5 USD (số seri QE 12499815B), 02 (hai) tờ mệnh giá 20 USD (số seri PE 58751346G, PA 04087340B), 02 (hai) tờ mệnh giá 50 USD (số seri MG 39640192A, ML 48832304B) nên H lấy trộm số tiền trên bỏ vào túi quần bên trái của mình và đi về nhà tại thôn V, xã P. H cất giấu lắc tay tại phòng ngủ rồi đem 05 tờ tiền mệnh giá nêu trên đến tiệm V1 tại khu phố D, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận đổi được 3.400.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân. Chiều ngày 22/10/2024, khi biết thông tin Cơ quan điều tra đang xác minh vụ trộm và mời H làm việc, do lo sợ nên H đã đến Công an huyện T để đầu thú về hành vi của mình; H đã giao nộp lại số tiền 1.000.000 đồng là tiền còn lại từ việc đổi ngoại tệ. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của H tại thôn V, xã P, huyện N phát hiện và thu giữ 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu vàng, dài 17cm, rộng 1,8cm, mặt dưới có chữ “Mi Hồng” và chữ “PPJ610” mà H đã trộm cắp được của nhà anh T. Ngoài ra, đã tiến hành làm việc với chủ tiệm V1 thu giữ 05 (năm) tờ tiền ngoại tệ nêu trên.
Ngày 24/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra quyết định yêu cầu định giá tài sản số 1141/QĐ-CSHS đối với 05 (năm) tờ tiền ngoại tệ (đã thu giữ) và yêu cầu định giá tài sản số 2643/YC-CSHS đối với 01 (một) lắc tay bằng vàng dài 17cm, rộng 1,8cm (mặt dưới có chữ “Mi Hồng” và chữ “PPJ610"), loại vàng 18k (610), trọng lượng 05 chỉ, 6 phân, 4 ly
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 4638/KL-HĐĐGTS, ngày 01/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị của 01 (một) lắc tay bằng vàng dài 17cm, rộng 1,8cm (mặt dưới có chữ “Mi Hồng” và chữ “PPJ610”), loại vàng 18k (610), trọng lượng 05 chỉ, 6 phân, 4 ly theo yêu cầu định giá là 25.850.000 đồng (hai mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận số 6822/KL-KTHS ngày 26/11/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) lắc tay bằng vàng dài 17cm, rộng 1,8cm (mặt dưới có chữ “Mi Hồng” và chữ “PPJ610"), khối lượng: 21,1492gam, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (A): 62,93%, B (A): 18,01%, Đ (Cu): 15,86%, Κ (Z): 3,2%.
Tại Bản kết luận giám định số 268/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N đã kết luận: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5 Dollars, có số seri QE 12499815B là tiền thật của Hoa Kỳ, mệnh giá 5 đô la; 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 20 Dollars, có số seri PE 58751346 và PA 04087340B là tiền thật của Hoa Kỳ, mệnh giá 20 đô la; 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 50 Dollars, có số seri MG 39640192A và ML 488323304B là tiền thật của Hoa Kỳ, mệnh giá 50 đô la.
Tại Công văn số 613/NTH ngày 08/11/2024 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh N công bố tỷ giá trung tâm của Đ1 với Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 20/10/2024 là 24.213 VND.
Vật chứng và xử lý vật chứng:
Tạm giữ 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu vàng dài 17cm, rộng 1,8cm (mặt dưới có chữ “Mi Hồng” và chữ “PPJ610”), do Võ Phú H giao nộp; 05 (năm) tờ tiền ngoại tệ gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5 đô la Mỹ (số seri QE 12499815B), 02 (hai) tờ mệnh giá 20 đô la Mỹ (số seri PE 58751346G, PA 04087340B), 02 (hai) tờ mệnh giá 50 đô la Mỹ (số seri MG 39640192A, ML 48832304B) do bà Trịnh Thị Minh T1 giao nộp. Đây là tài sản H đã trộm cắp của anh Lê Thanh T mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị hại T.
Tạm giữ số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền do H phạm tội mà có nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về dân sự: Bị hại Lê Thanh T đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì khác. Bà Trịnh Thị Minh T1 đã nhận lại 3.400.000đ (ba triệu, bốn trăm nghìn đồng) là tiền Võ Phú H đã tác động gia đình bồi thường, bà T1 không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSTN ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Võ Phú H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Phú H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Phú H từ 12 (mười hai) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù.
* Tại phiên tòa bị cáo H khai nhân toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị Minh T1. Xét thấy bà T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của bà T1 không ảnh hưởng tới việc xét xử bị cáo nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử.
[3]. Xác định tội danh và khung hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo Võ Phú H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở xác định khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 20/10/2024, tại thôn V, xã P, huyện T, Võ Phú H đã lấy trộm 01 (một) lắc tay bằng vàng dài 17cm, rộng 1,8cm (mặt dưới có chữ “Mi Hồng” và chữ “PPJ610”) và 05 (năm) tờ tiền ngoại tệ tệ gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5 đô la Mỹ (số seri QE 12499815B), 02 (hai) tờ mệnh giá 20 đô la Mỹ (số seri PE 58751346G, PA 04087340B), 02 (hai) tờ mệnh giá 50 đô la Mỹ (số seri MG 39640192A, ML 48832304B) của anh Lê Thanh T. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 29.360.885 đồng.
Xét lời nhận tội của bị cáo Võ Phú H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam truy tố bị cáo Võ Phú H phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 27/6/2023, bị cáo Võ Phú H bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 (mười hai) thàng tù về tội “Trộm cắp tải sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2024, chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Phú H có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo đã tác động mẹ ruột bồi thường thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo tự nguyện ra đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[6]. Quyết định hình phạt, mức hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân và vi phạm pháp luật hình sự nên cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[7]. Đối với bà Trịnh Thị Minh T1 không biết các tài sản do H trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên không xem xét.
[8]. Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Lê Thanh T đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Minh T1 đã nhận lại số tiền 3.400.000 đồng và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.
- Đối với bà Lê Thị M, đã bỏ ra số tiền thay bị cáo Võ Phú H bồi thường cho bà Trịnh Thị Minh T1 3.400.000 đồng. Bà M không yêu cầu bị cáo H trả lại số tiền trên nên không xem xét.
[9]. Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) mà bị cáo H đã giao nộp. Xét thấy, đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ.
[10]. Về án phí: Bị cáo Võ Phú H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Võ Phú H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Phú H 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 22/10/2024).
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), theo quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSTN, ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam và giấy Ủy nhiệm chi lập ngày 17/01/2025 của Kho bạc Nhà nước huyện T, ký hiệu: C4-02a/KB.
Về án phí: Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Võ Phú H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Phú H phạm tội Trộm cắp tài sản
