|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày 04 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thiện Bửu;
- Ông Bùi Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với:
Bị cáo Quang Tuấn V (Tên gọi khác: Nu C), sinh ngày 10/12/1988 tại Đồng Tháp;
nơi cư trú: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quang Hữu L, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1969; có vợ tên Phạm Thị Mỹ H, sinh năm 1993 và con tên Quang Tuấn H1, sinh năm 2012; tiền sự, tiền án: Chưa; nhân thân: Ngày 29/11/2019, bị C1 (nay là thành phố) Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt vào ngày 18/3/2020; tạm giữ: Từ ngày 29/11/2024 đến ngày 08/12/2024; tạm giam: Từ ngày 08/12/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn N (tên gọi khác: Nu Mặt D), sinh ngày 19/9/1985;
Nơi thường trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi ở hiện nay: Khóm M, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Văn V1 (Tên gọi khác: Nu B), sinh ngày 01/01/1980;
- Trần Thị D1, sinh ngày 20/12/2008;
- Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 27/5/2006;
- Nguyễn Minh H2, sinh ngày 19/02/2002;
- Võ Thị G, sinh ngày 01/01/1985;
- Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 19/9/1991;
- Nguyễn Quốc M, sinh ngày 01/8/2009;
- Nguyễn Thị Bảo N1, sinh ngày 01/10/2007;
- Ngô Thị Kim N2, sinh 01/01/1993;
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi thường trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi thường trú: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang;
Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi thường trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Khóm M, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước, nên Quang Tuấn V đã nhắn tin cự cãi với Trần Văn N. Đến khoảng 14 giờ 10 phút, ngày 27/11/2024, Trần Văn N cùng với Nguyễn Văn V1 đến uống nước tại quán C2 tại ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Tại đây, Trần Văn N gọi điện thoại cho Quang T2 V đến để nói chuyện, khoảng 05 - 10 phút sau Quang T2 V điều khiển xe mô tô loại STAR SR màu đỏ - đen, biển số 93P2-33.558 chạy đến, ngồi vào bàn uống nước; lúc này, Trần Văn N mới hỏi Quang Tuấn V “vì sao nhắn tin chửi anh” nên giữa Trần Văn N với Quang T2 V tiếp tục cự cãi; anh Trần Văn N mới dùng tay đánh vào mặt của Quang Tuấn V, hai bên câu vật nhau thì Quang T2 V lấy khẩu súng ngắn màu đen cất giấu trong người (súng do một người bạn bên Campuchia, không nhớ tên và địa chỉ tặng cho Quang Tuấn V) bắn về hướng Trần Văn N một phát nhưng không trúng làm Trần Văn N hoảng sợ, bỏ chạy trốn.
Thời điểm, Quang Tuấn V nổ súng gây nên tiếng nổ lớn làm những người có mặt tại quán cà phê Phương L1 gồm: Chủ quán cà phê, nhân viên và khách ngồi uống nước tại đây hoảng sợ, chạy trốn vào phòng trong quán và một số người hoảng sợ bỏ đi. Cùng thời điểm này, tại sân bóng đá do chị Nguyễn Thị Phương T1 quản lý cách hiện trường nơi Quang Tuấn V nổ súng bắn anh Trần Văn N khoảng 41 mét có khoảng hơn 10 em học sinh đến thuê sân đá bóng nhưng khi nghe tiếng súng nổ nên các em học sinh đã hoảng sợ bỏ đi không dám thuê sân để đá bóng; đối diện hiện trường là Trạm xăng Đ1 và bến xe khách Hồng Ngự thường xuyên có xe, khách tập trung đông người; khi nghe tiếng súng nổ lúc này khách đến đổ xăng và hành khách trong bến xe giật mình hoảng sợ.
Sau khi nổ súng bắn anh Trần Văn N bỏ chạy thì Quang T2 V tiếp tục đứng chửi, la lớn tiếng khoảng 05phút - 10 phút thì Quang T2 V mới mang theo khẩu súng cất giấu trong người điều khiển xe rời khỏi hiện trường.
Sau sự việc xảy ra, anh Trần Văn N đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Ngay sau khi tiếp nhận sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H nhanh chóng xác minh. Đến khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 29/11/2024 bắt giữ Quang Tuấn V tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Ngày 29/11/2024, Ủy ban nhân dân xã B, thành phố H có công văn số 736/UBND, về việc yêu cầu xử lý đối tượng về hành vi Gây rối trật tự công cộng xảy ra vào ngày 27/11/2024 tại ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ và xử lý: 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm hai bên bằng nhựa màu đen, trên súng có ký hiệu “EKOL Major Cal. 9 mm P.A.K.”; 03 (ba) viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng cao su màu đen, đít 02 (hai) viên đạn có ký hiệu “OZK P.A. 9mm” và đít 01 (một) viên đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”; 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít vỏ đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm” (tất cả được niêm phong trong túi niêm phong màu trắng có chữ ký và ghi họ tên của Lê Hữu T3 và Lê Phước T4, trên phong bì có đóng dấu mọc đỏ tròn “Công an tỉnh Đ – Phòng K1”); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu vàng gold, màng hình có nhiều vết nứt, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 (một) xe mô tô có biển số 93P2-335.58, nhãn hiệu STAR SR, màu đỏ-đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 (một) nón kết lưỡi trai màu vàng-đen; 01 (một) áo thun dài tay màu xanh; 01 (một) quần short màu đen-vàng-trắng có nhiều hoa văn, tất cả đều đã qua sử dụng; 01 (một) tệp dữ liệu video có tên "14.12.03-14.15.00[R][0@0][0].dav” được lưu trong đĩa DVD thu giữ quay lại hình ảnh Quang Tuấn V tại hiện trường. Tất cả những vật chứng, đồ vật này hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định nhằm phục vụ cho công tác điều tra, truy tố.
Tại bản Kết luận giám định số 1678/KL-KTHS, ngày 03/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: “1. Khẩu súng ngắn cần giám định ký hiệu A1 là súng bắn đạn cao su cỡ 9mm, thuộc công cụ hỗ trợ; 2. 03 (ba) viên đạn cần giám định ký hiệu A2 đến A4 đều là đạn cao su cỡ 9mm, thuộc công cụ hỗ trợ; 3. Vỏ đạn cần giám định ký hiệu A5 là vỏ của loại đạn cao su cỡ 9mm, loại đạn này thuộc công cụ hỗ trợ”.
Tại bản Kết luận giám định số 1753/KL-KTHS, ngày 20/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Tệp dữ liệu video có tên “14.12.03-14.15.00[R][0@0][0].dav” được lưu trong đĩa DVD không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Trong quá trình điều tra Quang Tuấn V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSTPHN, ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự truy tố. Ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã phát biểu lời luận tội: Khẳng định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quang Tuấn V từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù.
Đối với 01 (một) túi niêm phong màu trắng có chữ ký và ghi họ tên của Lê Hữu T3 và Lê Phước T4, trên phong bì có đóng dấu mọc đỏ tròn “Công an tỉnh Đ – Phòng K1” bên trong có: 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm hai bên bằng nhựa màu đen, trên súng có ký hiệu “EKOL Major Cal. 9mm P.A.K.”; 03 (ba) viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng cao su màu đen, đít 02 (hai) viên đạn có ký hiệu “OZK P.A. 9mm” và đít 01 (một) viên đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”; 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít vỏ đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”. Trong vụ án này đã áp dụng tình tiết sử dụng vũ khí (khẩu súng) để khởi tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý hành chính đối với Quang T2 V về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 11 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của Quang Tuấn V nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên tặng cho Quang Tuấn V khẩu súng bắn đạn cao su và người thanh niên cho Quang T2 V mượn 01 (một) xe mô tô biển số 93P2-335.58. Qua điều tra, không xác định tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, do đó không có căn cứ xử lý. Mặc khác qua xác minh xe mô tô biển số 93P2-335.58 do anh Hoàng Văn K, sinh năm 1995, cư ngụ Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước đứng tên giấy đăng ký xe; Qua xác minh tại địa phương anh Hoàng Văn K hiện tại không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ, do đó nên giao xe mô tô biển số 93P2-335.58 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục quản lý để phục vụ việc xác minh truy tìm chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với hành vi của Trần Văn N tham gia đánh nhau với Quang Tuấn V, xét thấy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng”, nên không xem xét xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã có văn bản đề nghị xử phạt hành chính đối với Trần Văn N nên không xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) cái nón kết lưỡi trai màu vàng-đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo thun dài tay màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần short màu đen-vàng-trắng có nhiều hoa văn; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu vàng gold, màn hình có nhiều vết nứt, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Đây là đồ vật, tài sản cá nhân của Quang T2 V không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Quang Tuấn V.
Đối với tệp dữ liệu video có tên “14.12.03-14.15.00[R][0@0][0].dav” được lưu trong đĩa DVD là chứng cứ có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Toà án tuyên:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong màu trắng có chữ ký và ghi họ tên của Lê Hữu T3 và Lê Phước T4, trên phong bì có đóng dấu mọc đỏ tròn “Công an tỉnh Đ – Phòng K1” bên trong có: 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm hai bên bằng nhựa màu đen, trên súng có ký hiệu “EKOL Major Cal. 9mm P.A.K.”; 03 (ba) viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng cao su màu đen, đít 02 (hai) viên đạn có ký hiệu “OZK P.A. 9mm” và đít 01 (một) viên đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”; 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít vỏ đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm".
Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục quản lý 01 (một) xe mô tô biển số 93P2-335.58, nhãn hiệu STAR SR, màu đỏ-đen (Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động).
Trả lại cho Quang Tuấn V: 01 (một) cái nón kết lưỡi trai màu vàng-đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo thun dài tay màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần short màu đen-vàng-trắng có nhiều hoa văn; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu vàng gold, màn hình có nhiều vết nứt, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.
Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) tệp dữ liệu video có tên “14.12.03-14.15.00[R][0@0][0].dav” được lưu trong đĩa DVD thu giữ quay lại hình ảnh Quang Tuấn V tại hiện trường.
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý vật chứng nêu trên.
Bị cáo thống nhất nội dung luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 09/CT-VKSTPHN ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố, cụ thể là vào khoảng 14 giờ 10 phút, ngày 27/11/2024, Trần Văn N và Nguyễn Văn V1 đến uống nước tại quán C2 tại ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Tại đây, Trần Văn N gọi điện thoại cho Quang T2 V đến để nói chuyện, khoảng 05 - 10 phút sau Quang T2 V điều khiển xe mô tô loại STAR SR màu đỏ - đen, biển số 93P2-33.558 chạy đến, ngồi vào bàn uống nước; lúc này Trần Văn N mới hỏi Quang Tuấn V “vì sao nhắn tin chửi anh” nên giữa Trần Văn N với Quang T2 V tiếp tục cự cãi; anh Trần Văn N mới dùng tay đánh vào mặt của Quang Tuấn V, hai bên câu vật nhau thì Quang T2 V lấy khẩu súng ngắn màu đen cất giấu trong người bắn về hướng Trần Văn N một phát nhưng không trúng làm Trần Văn N hoảng sợ, bỏ chạy trốn; đồng thời, bị cáo thực hiện hành vi dùng súng bắn gây nổ lớn tại nơi công cộng và còn có những lời lẻ thô tục, la lối, chửi bới gây ồn ào, làm cho những người xung quanh hoảng sợ, gây mất trật tự công cộng.
[3] Tại bản Kết luận giám định số 1678/KL-KTHS, ngày 03/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: “1. Khẩu súng ngắn cần giám định ký hiệu A1 là súng bắn đạn cao su cỡ 9mm, thuộc công cụ hỗ trợ; 2. 03 (ba) viên đạn cần giám định ký hiệu A2 đến A4 đều là đạn cao su cỡ 9mm, thuộc công cụ hỗ trợ; 3. Vỏ đạn cần giám định ký hiệu A5 là vỏ của loại đạn cao su cỡ 9mm, loại đạn này thuộc công cụ hỗ trợ”.
[4] Tại bản Kết luận giám định số 1753/KL-KTHS, ngày 20/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Tệp dữ liệu video có tên “14.12.03-14.15.00[R][0@0][0].dav” được lưu trong đĩa DVD không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh.
[5] Như vậy, đã đủ chứng cứ để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
[6] Tại Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng quy định: “ 1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) ...b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách...”.
[7] Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc sử dụng súng bắn người thì sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng cho người bị bắn. Mặc dù, bị cáo dùng súng (thuộc loại công cụ hỗ trợ) và cũng không bắn trúng gây tổn thương cơ thể cho anh Trần Văn N nhưng việc dùng súng bắn phát ra tiếng nổ tại những nơi tập trung đông người như quán cà phê, sân bóng đá, bến xe khách,...đang diễn ra sinh hoạt bình thường.
[8] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, diễn ra công khai, liều lĩnh, nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang trong quần chúng Nhân dân, không an tâm lao động sản xuất, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại xã B nói riêng và địa bàn thành phố H nói chung.
[9] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có ông ngoại tên Nguyễn Quốc Đ là liệt sĩ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[10] Nhân thân của bị cáo: Ngày 29/11/2019, bị C1 (nay là thành phố) Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt vào ngày 18/3/2020.
[11] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cũng cần phải cân nhắc xem xét giảm nhẹ hình phạt và có mức án nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, nhằm giáo dục cho bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[12] Đối với 01 (một) túi niêm phong màu trắng có chữ ký và ghi họ tên của Lê Hữu T3 và Lê Phước T4, trên phong bì có đóng dấu mọc đỏ tròn “Công an tỉnh Đ – Phòng K1” bên trong có: 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm hai bên bằng nhựa màu đen, trên súng có ký hiệu “EKOL Major Cal. 9mm P.A.K.”; 03 (ba) viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng cao su màu đen, đít 02 (hai) viên đạn có ký hiệu “OZK P.A. 9mm” và đít 01 (một) viên đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”; 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít vỏ đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”. Trong vụ án này đã áp dụng tình tiết sử dụng vũ khí (khẩu súng) để khởi tố bị can theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý hành chính đối với Quang T2 V về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 11 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của Quang Tuấn V nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ”.
[13] Đối với người thanh niên tặng cho Quang Tuấn V khẩu súng bắn đạn cao su và người thanh niên cho Quang T2 V mượn 01 (một) xe mô tô biển số 93P2-335.58. Qua điều tra, không xác định tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, do đó không có căn cứ xử lý. Mặc khác qua xác minh xe mô tô biển số 93P2-335.58 do anh Hoàng Văn K, sinh năm 1995, cư ngụ Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước đứng tên giấy đăng ký xe; Qua xác minh tại địa phương anh Hoàng Văn K hiện tại không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ, do đó nên giao xe mô tô biển số 93P2-335.58 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục quản lý để phục vụ việc xác minh truy tìm chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[14] Đối với hành vi của Trần Văn N tham gia đánh nhau với Quang Tuấn V, xét thấy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng”, nên không xem xét xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã có văn bản đề nghị xử phạt hành chính đối với Trần Văn N nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[15] Vật chứng vụ án:
[15.1] 01 (một) túi niêm phong màu trắng có chữ ký và ghi họ tên của Lê Hữu T3 và Lê Phước T4, trên phong bì có đóng dấu mọc đỏ tròn “Công an tỉnh Đ – Phòng K1” bên trong có: 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm hai bên bằng nhựa màu đen, trên súng có ký hiệu “EKOL Major Cal. 9 mm P.A.K.”; 03 (ba) viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng cao su màu đen, đít 02 (hai) viên đạn có ký hiệu “OZK P.A. 9mm” và đít 01 (một) viên đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”; 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít vỏ đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm” có liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần phải tịch thu và tiêu hủy.
[15.2] 01 (một) cái nón kết lưỡi trai màu vàng-đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo thun dài tay màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần short màu đen-vàng-trắng có nhiều hoa văn; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu vàng gold, màn hình có nhiều vết nứt, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Các tài sản này không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần phải trả cho bị cáo.
[15.3] Tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Đồng Tháp quản lý 01 (một) xe mô tô biển số 93P2-335.58, nhãn hiệu STAR SR, màu đỏ-đen (Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động) để phục vụ việc xác minh truy tìm chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.
[15.4] Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) tệp dữ liệu video có tên “14.12.03-14.15.00[R][0@0][0].dav” được lưu trong đĩa DVD thu giữ quay lại hình ảnh Quang Tuấn V tại hiện trường.
[16] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quang Tuấn V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Quang Tuấn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ (Ngày 29/11/2024).
Vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong màu trắng có chữ ký và ghi họ tên của Lê Hữu T3 và Lê Phước T4, trên phong bì có đóng dấu mọc đỏ tròn “Công an tỉnh Đ – Phòng K1” bên trong có: 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm hai bên bằng nhựa màu đen, trên súng có ký hiệu “EKOL Major Cal. 9mm P.A.K.”; 03 (ba) viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng cao su màu đen, đít 02 (hai) viên đạn có ký hiệu “OZK P.A. 9mm” và đít 01 (một) viên đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”; 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít vỏ đạn có ký hiệu “PAK GLD YAS 9mm”.
Trả lại cho Quang Tuấn V: 01 (một) cái nón kết lưỡi trai màu vàng-đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo thun dài tay màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần short màu đen-vàng-trắng có nhiều hoa văn; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu vàng gold, màn hình có nhiều vết nứt, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.
Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục quản lý 01 (một) xe mô tô biển số 93P2-335.58, nhãn hiệu STAR SR, màu đỏ-đen (Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động) để phục vụ việc xác minh truy tìm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 07 tháng 02 năm 2025).
Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) tệp dữ liệu video có tên “14.12.03-14.15.00[R][0@0][0].dav” được lưu trong đĩa DVD thu giữ quay lại hình ảnh Quang Tuấn V tại hiện trường.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Quang Tuấn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04 tháng 3 năm 2025). Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt theo quy định của pháp luật.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội gây rối trật tự công cộng đối với bị cáo Quang Tuấn V
