TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 02 - 2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Dung
Ông Đặng Bắc
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2024/TB- TLVA ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Vân A, sinh năm 1995;
Nơi thường trú: Xóm I, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt);
Bị đơn: Anh Đặng Tuấn G, sinh ngày 1995;
Nơi thường trú: Xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;
Hiện đang ở Đài Loan (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Vân A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Tuấn G đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào ngày 21/9/2020, trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung cùng bố mẹ đẻ của anh G, chị phát hiện anh G có quan hệ ngoại tình nhưng vì con nên chị đã tha thứ. Năm 2021, anh G đi lao động tại Đài Loan, thời gian đầu còn liên lạc với chị, sau đó thì ít dần, chị biết anh G có quan hệ tình cảm với người khác tại Đài Loan, nên đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh chị cũng chấm dứt liên lạc với nhau từ đó tới nay. Chị xác định không còn tình cảm với anh G, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.
Về con chung: Chị và anh G có 01 con chung là Đặng Phạm Anh T, sinh ngày 04/02/2021. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản làm việc ngày 14/02/2025, giữa Tòa án và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973 là mẹ đẻ của anh Đặng Tuấn G và anh Đặng Tuấn K, sinh năm 1993 là anh trai của anh Đặng Tuấn G, có cùng địa chỉ: Xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên dưới sự chứng kiến của 12 xóm Làng Ngòi, bà T1 và anh K xác định: Anh Đặng Tuấn G là con trai của bà T1 và là em trai của anh K. Anh G thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại nhưng gia đình không biết địa chỉ hiện nay của anh G ở Đài Loan nên không thể cung cấp được cho Tòa án. Anh G biết việc chị Vân A xin ly hôn, anh G xác định anh và chị Vân A không còn tình cảm, nhất trí ly hôn với chị Vân A. Hai vợ chồng có 01 con chung là Đặng Phạm Anh T, sinh ngày 04/02/2021, anh G đồng ý giao con chung cho chị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Vân A không đề nghị anh G cấp dưỡng, anh G nhất trí. Về tài sản chung, nợ chung không có. Anh G đề nghị được vắng tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng:
Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo quy định của BLTTDS: Tiếp nhận đơn, thông báo nộp tạm ứng án phí, thông báo thụ lý vụ án và tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định của BLTTDS; Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật
- Quan điểm giải quyết vụ án:
+ Đủ điều kiện đưa ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự sơ thẩm.
+ Đề xuất: Căn cứ các Điều 28, 37, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Vân A, cho chị Vân A được ly hôn với anh Đặng Tuấn G. Về con chung: Giao con chung là Đặng Phạm Anh T, sinh ngày 04/02/2021 cho chị Vân A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh G do chị Vân A không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung hai bên đều xác định không có nên không giải quyết. Chị Vân A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.]. Anh Đặng Tuấn G trước khi xuất cảnh có nơi thường trú tại Xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, hiện đang ở Đài Loan. Theo công văn số 5281/PQLNXC(Đ1) ngày 24/12/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định: “Anh Đặng Tuấn G đã được cấp hộ chiếu và đã xuất cảnh ngày 31/3/2021 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
[2.]. Nguyên đơn chị Phạm Vân A chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của anh G ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của anh G ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ở nước ngoài, không đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để tham gia tố tụng, căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được.
[3.]. Anh G mặc dù không có văn bản thể hiện quan điểm của mình gửi về cho Toà án, nhưng thông qua đại diện thân nhân của anh G là bà Nguyễn Thị T1 và anh Đặng Tuấn K, có đủ căn cứ xác định anh G vẫn liên hệ với bà T1 và anh K nhưng gia đình cũng không cung cấp được địa chỉ của anh G tại Đài Loan cho Tòa án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao, về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
[4.]. Tại phiên tòa hôm nay, chị Phạm Vân A có mặt, anh Đặng Tuấn G có ý kiến xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn anh G.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Vân A:
[5.]. Hôn nhân giữa chị Phạm Vân A và anh Đặng Tuấn G trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung được thời gian ngắn, đến năm 2021 anh G sang Đài Loan lao động, do anh G có ở với người khác nên chị Vân A đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng không liên lạc từ đó tới nay. Chị Vân A xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn, phía anh G nhất trí. Hội đồng xét xử thấy, giữa chị Vân A và anh G đã không còn sự yêu thương, quan tâm, chia xẻ, nên mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình. Việc chị Vân A xin ly hôn anh G là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vân A, cho chị Vân A được ly hôn với anh G là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam
[6.]. Về con chung: Chị Phạm Vân A và anh Đặng Tuấn G có 01 con chung là Đặng Phạm Anh T, sinh ngày 04/02/2021. Khi ly hôn chị Vân A có nguyện vọng được nuôi con chung. Bản thân anh G thông qua thân nhân cũng nhất trí đồng ý cho chị Vân A được nuôi con. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử xét giao con chung Đặng Phạm Anh T, cho chị Vân A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu cầu.
[7.]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Vân A và anh Đặng Tuấn G không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.
[8.]. Về án phí: Chị Vân A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được chuyển từ dự phí đã nộp sang.
[9.]. Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Vân A đối với anh Đặng Tuấn G
1. Về hôn nhân: Cho chị Phạm Vân A được ly hôn anh Đặng Tuấn G
2. Về con chung: Giao con chung Đặng Phạm Anh T, sinh ngày 04/02/2021 cho chị Vân A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh G có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh G do chị Vân A không yêu cầu.
3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Án phí: Chị Phạm Vân A phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000233 ngày 20/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Phạm Vân A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Anh Đặng Tuấn G được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 13/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 13/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VÂN A G
