|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/DS-ST
Ngày: 28 - 02 - 2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản là tiền"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Hồng Vang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Dương Thúy Hà |
| Ông Nguyễn Văn Mến |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông/Bà Nguyễn Thị Thùy V – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2024/TLST - DS, ngày 20 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXX-ST, ngày 14 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số:19/2025/QĐST-DS, ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh H, sinh năm 1997
Địa chỉ: Phố T, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
Nơi ở hiện tại: 82B, đường số E, khu dân cư H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
+Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 21 tháng 10 năm 2024: - Ông Lâm Tấn N, sinh năm 1980 - Địa chỉ: 2/5/13 B, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986. Vắng mặt
Địa chỉ: N, chung cư T, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào khoảng tháng 6 năm 2023 thông qua người quen giới thiệu, ông Nguyễn Anh H có cho bà Nguyễn Thị N1 vay số tiền 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay 06 tháng từ ngày 16 tháng 6 năm 2023 đến ngày 15 tháng 12 năm 2024), lãi suất tối đa là 20%/năm, phương thức trả nợ gốc, lãi một lần khi đến thời hạn. Có làm hợp đồng vay tiền, không công chứng, chứng thực, bà N1 có ký đã nhận đủ tiền. Khi vay tiền bà N1 không có thế chấp bất kỳ tài sản gì. Giữa ông H và bà N1 chỉ có quan hệ giao dịch vay tiền chứ không có giao dịch mua bán gì.
Vào khoảng cuối tháng 9 năm 2023, ông H có giao cho bà N1 số tiền 60.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi triệu đồng) để mua dùm 02 (hai) điện thoại Iphone 15 Pro Max bản 256GB, thời hạn giao điện thoại là ngày 21 tháng 10 năm 2023. Có làm biên nhận bà N1 có nhận tiền.
Khi đến hết thời hạn vay thì bà N1 không trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng vay tiền đã ký kết và cũng không giao 02 điện thoại cho ông H và cũng không trả lại số tiền này. Cho đến nay bà N1 không trả nợ và cố tình trốn tránh trách nhiệm trả nợ.
Tại phiên tòa:
- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
- + Buộc bà Nguyễn Thị N1 trả số tiền gốc theo hợp đồng vay là 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng), tiền lãi tính từ ngày 16 tháng 6 năm 2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 20%/năm và tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong.
- + Buộc bà Nguyễn Thị N1 phải trả số tiền đã nhận mua dùm điện thoại là 60.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi triệu đồng). Yêu cầu trả lãi chậm trả ở giai đoạn thi hành án.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị N1 đã được tống đạt, niêm yết và nhận được các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- + Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, cũng như của Hội đồng xét xử ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp có trong hồ sơ vụ án, thấy các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tiền gốc và tiền lãi là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy.
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay, đòi lại tài sản là tiền. Bị đơn có nơi cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ. Do đó, quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản là tiền” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Theo kết quả xác minh của Công an phường P, quận C thì bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986 có đăng ký thường trú N8-2, chung cư T, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Hiện nay bà Nguyễn Thị N1 không còn sinh sống tại địa chỉ N, chung cư T, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. H1 đã bán nhà tháng 4 năm 2021 cho đến nay không rõ chuyển đến địa chỉ nào. Do bà Nguyễn Thị N1 thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn biết nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án tiến hành các thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng bà Nguyễn Thị N1 vẫn vắng mặt. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắn mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án và xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, thu thập trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về nợ gốc:
Căn cứ vào hợp đồng vay tiền, không công chứng chứng thực ngày 16.6.2023 thể hiện bà Nguyễn Thị N1 có vay của ông H số tiền 300.000.000 đồng, thời gian vay 06 tháng, lãi suất 20%/năm (1.66%/tháng); Giấy biên nhận(viết tay) không ghi ngày tháng năm, không công chứng, chứng thực, có nội dung thể hiện bà Nguyễn Thị N1 có nhận số tiền 60.000.000 đồng để mua 02 Ihone 15 Pro Max bản 256GB cho ông H. Các văn bản trên đều có chữ ký và chữ viết Nguyễn Thị N1 và dấu vân tay, thể hiện bà N1 nhận đủ tiền. Qúa trình tố tụng, Toà án đã thực hiện việc cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Thị N1 nhưng không đến Toà để tham gia tố tụng, cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình cũng như không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu do nguyên đơn đưa ra. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp đủ cơ sở xác định việc bà Nguyễn Thị N1 có vay tiền và nhận tiền từ ông Nguyễn Anh H là có thật.
[2.2]. Về tiền lãi:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi 20%/năm từ ngày 16.6.2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm trên số tiền 300.000.000 đồng. Xét thấy, đây là hợp đồng vay tài sản có thời hạn, có thỏa thuận lãi suất nên yêu cầu bị đơn trả lãi với mức lãi suất 20%/năm là phù hợp. Số tiền lãi bị đơn phải trả là: 300.000.000 đồng x 20%/năm (1.67%/tháng) x 1 năm 8 tháng 12 ngày = 102.204.000 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh H.
[3] Về lệ phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng:
Ông Nguyễn Anh H phải chịu 2.496.000 đồng (Bằng chữ: Hai triêu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng) là phù hợp theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã nộp xong.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị N1 phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 180, 227, 238, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 166, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản.
[1] Buộc bà Nguyễn Thị N1 phải trả cho ông Nguyễn Anh H số tiền 462.204.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi hai triệu hai trăm lẽ bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án, nếu bị đơn chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[2] Về lệ phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ông Nguyễn Anh H phải chịu 2.496.000 đồng (Hai triêu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Nguyên đơn đã nộp xong.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 22.488.160 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn một trăm sáu mươi đồng).
- - Hoàn trả cho ông Nguyễn Anh H 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003892, ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản là tiền
- Số bản án: 13/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản là tiền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh H
