Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS - ST

Ngày: 28 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Hoàng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Diễm.
Bà Lê Thị Kim Liên.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 78/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn Ru N, sinh ngày 30/3/1998. Nơi sinh: Tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: Ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1965 và bà Lê Mộng T, sinh năm 1969; Anh chị em ruột: Có 02 người (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 1990); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 03/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. (bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Công T1, sinh năm 2002. (xin xét xử vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Ấp G, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  3. Ông Võ Duy K, sinh năm 1993. (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  5. Ông Trương Lê Hoàng T2, sinh năm 2000. (xin xét xử vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: Số C, N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Ông Trương Văn Vũ L, sinh năm 1999. (vắng mặt)
  8. Nơi cư trú: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  9. Ông Nguyễn Văn Mười B, sinh năm 1969. (vắng mặt)
  10. Nơi cư trú: Số B, Đường T, khóm E, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết với Võ Công T1, sinh ngày 28/10/2002, nơi thường trú ấp G, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Trần Văn Ru N biết Võ Công T1 bán ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 26/9/2024, bị cáo Ru N sử dụng nickname Bé N1 liên hệ qua mạng xã hội zalo với nickname Ba Tạo của Võ Công T1 hỏi mua số tiền 500.000 đồng ma túy đá và Võ Công T1 đồng ý. Võ Công T1 hẹn bị cáo Ru N đến đường I thuộc xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long để bán ma túy, lúc này bị cáo Ru N đang ở nhà của Võ Duy K (tên thường gọi Khang B1), sinh năm 1993, tọa lạc ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên bị cáo Ru N kêu Võ Công T1 đem ma túy đá giao cho bị cáo Ru N tại nhà của Võ Duy K nhưng Võ Công T1 không biết đường đi đến nhà của Võ Duy K nên bị cáo Ru N chỉ đường cho Võ Công T1, Võ Công T1 đồng ý.

Khoảng 18 giờ ngày 26/9/2024, Võ Công T1 điều khiển xe mô tô một mình đến gần nhà của Võ Duy K thì được Trần Văn Ru N đón và dẫn Võ Công T1 đi đến cạnh chuồng gà phía sau nhà của Võ Duy K. Tại đây bị cáo Ru N đưa số tiền 500.000 đồng cho Võ Công T1 nhận, rồi Võ Công T1 đưa bị cáo Ru N một túi nylon bằng nhựa màu trắng trong suốt được hàn kín, bên trong chứa chất ma túy đá màu trắng - hồng. Bị cáo Ru N cất giấu chất ma túy trong túi áo và điều khiển xe mô tô đi về nhà tại ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Về đến nhà bị cáo lấy một phần chất ma túy đá ra sử dụng một mình, phần ma túy đá còn lại bị cáo Ru N để trong túi nylon và dùng lửa hàn kín rồi cất giấu trên người.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/9/2024, bị cáo Ru N muốn sử dụng ma túy, nhưng sợ gia đình phát hiện nên bị cáo Ru N lấy phần ma túy đá còn lại và một nỏ bằng thủy tinh bỏ vào bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON rồi cất giấu vào túi áo khoát bên trái mặc trên người (khi đi bị cáo chuẩn bị dụng cụ sử dụng trái phép ma túy gồm: một bật lửa và hai đoạn ống hút bằng nhựa bỏ vào túi màu đen đeo trên người) điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 84H1-8638 một mình đi đến nhà nghỉ N2, tọa lạc ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh, thuê phòng số 02 để sử dụng ma túy. Bị cáo Ru N vừa vào phòng số 02 thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bên trong túi áo khoát bên trái đang mặc, có một bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON bên trong chứa một túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín, bên trong chứa chất rắn màu trắng - hồng và một nỏ bằng thủy tinh; tiếp tục kiểm tra bên trong túi đeo của bị cáo thu giữ hai đoạn ống hút bằng nhựa, một bật lửa. Tại hiện trường, bị cáo Ru N khai nhận chất rắn màu trắng - hồng là ma túy đá của bị cáo mua cất giấu trong người để sử dụng. Công an huyện C tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo và tạm giữ niêm phong tang vật.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT –VKS - HS, ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, truy tố bị cáo Trần Văn Ru N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn Ru N hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng trọ số 02 nhà nghỉ N2, tọa lạc ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5955 gam, nhằm mục đích để sử dụng, bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi phạm tội, có thân nhân ông ngoại Lê Văn T3 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Ru N từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 27/9/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Trần Văn R Ni từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: 01 túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín, kích thước 3,5 cm x 02 cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng hồng là chất ma túy đá, khối lượng 0,5955 gam. Qua giám định chất rắn màu trắng hồng chứa trong túi nylon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, Cơ quan giám định hoàn trả đối tượng giám định khối lượng 0,5264 gam được để trong túi niêm phong số 515/2024/M ghi ngày 02/10/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thái B2; 01 bao (gói) thuốc lá nhãn hiệu SAIGON, màu vàng, kích thước 6,5 cm x 9,5 cm; 01 nỏ bằng thủy tinh chiều dài 05 cm; 01 túi có dây đeo bằng da màu đen, trên túi có ký hiệu GUCCI; 02 đoạn ống nhựa màu trắng tím chiều dài 11,5 cm, đường kín 0,5 cm; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 bật lửa màu xanh, kích thước 08 cm x 02 cm; 02 sim di động số 0363122133, 0347849519; 01 áo khoát màu đen có họa tiết màu trắng-hồng là tang vật của vụ án đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động màu tím, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, số imei 1: 866376047602096, số imei 2: 866376047602088 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Tiền Việt Nam 1.400.000 đồng của bị cáo Trần Văn R Ni không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Ru N nhưng tiếp tục giao cho Cơ quan Chi Cục thi hành án dân sự huyện Càng Long quản lý đê đảm bảo thi hành án cho bị cáo khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với 01 xe mô tô gắn biển số 84H1 – 8638, nhãn hiệu Wave, màu đen, số máy VDP1P52FMH501807, số khung VDPWCH034DP501807 giao cho Công an điều tra quản lý theo quy định pháp luật.

Ngoài ra vị còn đề nghị buộc bị cáo Trần Văn Ru N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Qua quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn Ru N xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Công T1, ông Trương Lê Hoàng T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Duy K, ông Trương Văn Vũ L, ông Nguyễn Văn Mười B đã triệu tập hợp lệ tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Tại phiên Tòa vị đại diện viện kiểm sát và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vì việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  2. [2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Ru N là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, khả năng tham gia lao động, học tập, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về trí tuệ của người sử dụng, ảnh hưởng sự duy trì nồi giống mà còn làm cho nhiều gia đình phải đổ vỡ hạnh phúc và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là thanh niên có đủ sức khỏe, có nghề nghiệp để tạo ra nguồn thu nhập phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân, nhưng không chí thú làm ăn, lại vi phạm pháp luật. Cụ thể: Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng trọ số 02 nhà nghỉ N2, tọa lạc ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5955 gam. Xét nhân thân bị cáo xấu: Vào ngày 22-12-2020 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 62/2020/HS-ST. Ngày 14-4-2021 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 14/2021/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt của hai bản án vào ngày 03/4/2022 và nộp xong án phí hình sự sơ thẩm. Đáng lẻ ra bị cáo phải biết ăn năn hối cải để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, nhưng bị cáo lại tiếp tục vi phạm.
  3. [3]. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
  4. [4] Những năm gần đây, cả nước nói chung và trên địa bàn huyện C, tỉnh Trà Vinh nói riêng, hành vi phạm tội về ma túy liên tục xảy ra, gây hoang mang, bức xúc trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của nhân dân, tạo ra nổi lo sợ cho xã hội. Để góp phần ổn định tình hình trật tự cho địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và tính chất của vụ án, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tạo điều kiện cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
  5. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Ru N, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng ông ngoại Lê Văn T3 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì. Đây là những căn cứ áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

  6. [5]. Do đó ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. [6]. Đối với Võ Công T1 qua điều tra làm rõ thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Trần Văn R Ni vào ngày 26/9/2024 tại ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C tiếp tục làm rõ khởi tố Võ Công T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  8. Đối với Võ Duy K, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

    Đối với ông Trương Lê Hoàng T2 là chủ nhà nghỉ N2, không biết việc bị cáo Trần Văn Ru N tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không vi phạm.

    Đối với xe mô tô mang biển kiểm soát 84H1 – 8638, nhãn hiệu Wave, màu đen, số máy VDP1P52FMH501807, số khung VDPWCH034DP501807 được bị cáo Trần Văn Ru N mua của Trương Văn Vũ L, sinh năm 1999, nơi thường trú ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Kết quả tra cứu nguồn gốc phương tiện xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn Mười B, sinh năm 1969, nơi thường trú Số B, đường T, Khóm E, Phường G, Thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Qua xác minh ông Nguyễn Văn Mười B và Trương Văn Vũ L đã bỏ địa phương không rõ địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa mời làm việc được. Đồng thời, qua tra cứu hệ thống dữ liệu truy tìm vật chứng Bộ C xác định xe mô tô gắn biển số 84H1 – 8638, nhãn hiệu Wave, màu đen, số máy VDP1P52FMH501807, số khung VDPWCH034DP501807 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

  9. [7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng thời thống nhất với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường của Công an huyện C, bản kết luận giám định số: 515/KL-KTHS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  10. [8]. Lời nhận tội của bị cáo Trần Văn Ru N tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan Điều tra Công an huyện C thu thập có được.
  11. Do vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long quyết định truy tố bị cáo Trần Văn Ru N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp với qui định của pháp luật, đúng người, đúng tội.

  12. [9] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín, kích thước 3,5 cm x 02 cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng hồng là chất ma túy đá, khối lượng 0,5955 gam. Qua giám định chất rắn màu trắng hồng chứa trong túi nylon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, Cơ quan giám định hoàn trả đối tượng giám định khối lượng 0,5264 gam được để trong túi niêm phong số 515/2024/M ghi ngày 02/10/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thái B2; 01 bao (gói) thuốc lá nhãn hiệu SAIGON, màu vàng, kích thước 6,5 cm x 9,5 cm; 01 nỏ bằng thủy tinh chiều dài 05 cm; 01 túi có dây đeo bằng da màu đen, trên túi có ký hiệu GUCCI; 02 đoạn ống nhựa màu trắng tím chiều dài 11,5 cm, đường kín 0,5 cm; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 bật lửa màu xanh, kích thước 08 cm x 02 cm; 02 sim di động số 0363122133, 0347849519; 01 áo khoát màu đen có họa tiết màu trắng-hồng là tang vật của vụ án tịch thu tiêu hủy.
  13. - 01 điện thoại di động màu tím, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, số imei 1: 866376047602096, số imei 2: 866376047602088 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

    - Tiền Việt Nam 1.400.000 đồng của bị cáo Trần Văn Ru N không liên quan đến hành vi phạm tội, tuyên trả lại cho bị cáo Ru N nhưng tiếp tục giao cho Cơ quan Chi Cục thi hành án dân sự huyện Càng Long quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với 01 xe mô tô gắn biển số 84H1 – 8638, nhãn hiệu Wave, màu đen, số máy VDP1P52FMH501807, số khung VDPWCH034DP501807 giao cho Công an điều tra quản lý theo quy định pháp luật.

  14. [10] Về án phí: Bị cáo Trần Văn Ru N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ru N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. - Căn cứ vào các Điều 45, 260, 268, 269, 299, 327, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

    - Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn Ru N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 27/9/2024.

    Xử phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Ru N 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

  3. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  4. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi nylon màu trắng trong suốt được hàn kín, kích thước 3,5 cm x 02 cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng hồng là chất ma túy đá, khối lượng 0,5955 gam. Qua giám định chất rắn màu trắng hồng chứa trong túi nylon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, Cơ quan giám định hoàn trả đối tượng giám định khối lượng 0,5264 gam được để trong túi niêm phong số 515/2024/M ghi ngày 02/10/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thái B2; 01 (một) bao (gói) thuốc lá nhãn hiệu SAIGON, màu vàng, kích thước 6,5 cm x 9,5 cm; 01 (một) nỏ bằng thủy tinh chiều dài 05 cm; 01 (một) túi có dây đeo bằng da màu đen, trên túi có ký hiệu GUCCI; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng tím chiều dài 11,5 cm, đường kín 0,5 cm; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) bật lửa màu xanh, kích thước 08 cm x 02 cm; 02 (hai) sim di động số 0363122133, 0347849519; 01 (một) áo khoát màu đen có họa tiết màu trắng-hồng.

    Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu tím, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, số imei 1: 866376047602096, số imei 2: 866376047602088.

    Tuyên giao trả cho bị cáo Trần Văn Ru N: Tiền Việt Nam 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục giao cho Cơ quan Chi Cục thi hành án dân sự huyện Càng Long quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Đối với 01 (một) xe mô tô gắn biển số 84H1 – 8638, nhãn hiệu Wave, màu đen, số máy VDP1P52FMH501807, số khung VDPWCH034DP501807 giao cho Công an điều tra quản lý theo quy định pháp luật.

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
  6. Buộc bị cáo Trần Văn Ru N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày án sơ thẩm tuyên. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Công T1, ông Võ Duy K, ông Trương Lê Hoàng T2, ông Trương Văn Vũ L và ông Nguyễn Văn Mười B, vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Phiên tòa sơ thẩm, được diễn ra theo hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Càng Long và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh (với sự hỗ trợ của ông Nguyễn Tấn Đ – Chuyên viên kỷ thuật Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - CCTHADS huyện Càng Long;
  • - Công an huyện Càng Long;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Hoàng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS - ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger